VPB: Chi phí vốn sẽ được cải thiện hơn nữa với việc bán vốn thành công FeCredit

VPB: Chi phí vốn sẽ được cải thiện hơn nữa với việc bán vốn thành công FeCredit

Lượt xem: 126
  •  

• Kế hoạch tại ĐHCĐ năm 2021. LNTT hợp nhất dự kiến đạt 16,654 nghìn tỷ đồng (+28% so với cùng kỳ) dựa trên tăng trưởng tín dụng +16,6%. Ngân hàng mẹ đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận khoảng 35-38% so với cùng kỳ. Ngân hàng cũng đề xuất bán 15 triệu cổ phiếu (từ cổ phiếu quỹ hiện tại) cho nhân viên với giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Giá vốn bình quân của cổ phiếu quỹ VPB là 29.236 đồng/cổ phiếu.

• Tìm kiếm đối tác chiến lược nước ngoài. VPB đã có kế hoạch phát hành riêng lẻ cho đối tác chiến lược nước ngoài từ 2019, tuy nhiên đến nay vẫn chưa hoàn tất. Hiện tại, VPB đang đàm phán với một số đối tác và kỳ vọng quá trình này có thể hoàn thành vào cuối năm 2021 trong kịch bản lạc quan. Nếu theo giả định của chúng tôi, giới hạn sở hữu nước ngoài (FOL) sau đợt phát hành riêng lẻ này là 30% (từ mức hiện tại là 22,77%) và việc bán vốn sẽ được thực hiện ở mức định giá P/B từ 2 đến 2,5x, thì giá trị sổ sách (BVPS) khi đó sẽ tăng thêm từ khoảng 8% đến 12%.

• Vốn điều lệ có thể được đề xuất tăng lên ít nhất 75 nghìn tỷ đồng tại ĐHCĐ 2022. Với nguồn doanh thu từ việc bán 49% cổ phần của FeCredit, khả năng đàm phán lại hợp đồng banca với AIA và lợi nhuận của năm 2021, tổng Vốn chủ sở hữu của VPB dự kiến đạt khoảng 90 tỷ đồng vào cuối năm 2021. Chủ tịch HĐQT cho biết ngân hàng có thể sẽ đề xuất tăng vốn điều lệ (sử dụng lợi nhuận để lại) lên ít nhất 75 nghìn tỷ đồng tại ĐHCĐ 2022.

• KQKD Q1/2021. Lợi nhuận Q1/2021 của VPB tăng mạnh đạt 4 nghìn tỷ đồng (+37,6% so với cùng kỳ), nhờ tăng trưởng tín dụng 2,8% so với đầu năm, NIM cải thiện (+21 bps) và chi phí nhân sự giảm mạnh (-28% so với cùng kỳ). Dư nợ cho vay tái cơ cấu lần đầu tiên giảm xuống kể từ Q2/2020. Tuy nhiên, có sự phân hóa khá rõ rệt giữa ngân hàng mẹ và FeCredit về chất lượng tín dụng. Trong khi ngân hàng mẹ có sự cải thiện rõ ràng hơn, FeCredit sẽ cần thêm một thời gian nữa để chất lượng tín dụng phục hồi trở lại.

• Nâng khuyến nghị lên KHẢ QUAN. Chúng tôi cho rằng kế hoạch phát hành riêng lẻ cho đối tác chiến lược nước ngoài sẽ có tác động tích cực đối với VPB. Với nguồn vốn mới từ việc bán vốn FeCredit và khả năng phát hành cổ phiếu mới này, hoạt động của VPB sẽ được cải thiện đáng kể. Chúng tôi chuyển cơ sở định giá đến tháng 6/2022 và sử dụng BVPS trung bình của năm 2021 và 2022. Chúng tôi tính đến việc bán vốn 49% FeCredit cũng như khả năng phát hành riêng lẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài vào cuối năm 2021. Do đó, chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm là 70.850 đồng/cổ phiếu, với tiềm năng tăng giá là 19%. Do đó, chúng tôi nâng khuyến nghị lên KHẢ QUAN đối với cổ phiếu VPB.

Diễn biến chính của VPB

Ngân hàng mẹ - TOI tăng trưởng khá với chất lượng tài sản ổn định

Thu nhập lãi ròng (NII) tăng trưởng mạnh nhất trong 14 quý vừa qua (+38% so với cùng kỳ) bù đắp mức giảm -21% so với cùng kỳ đối với thu nhập ròng ngoài lãi (non-NII). Non-NII giảm xuống còn 1,4 nghìn tỷ đồng đã được dự đoán trước, vì ngân hàng ghi nhận 739 tỷ đồng lợi nhuận từ kinh doanh trái phiếu trong Q1/2020.

Trong khi đó, NII tăng mạnh đạt 4,7 nghìn tỷ đồng trong Q1/2021 nhờ các yếu tố sau:

• Tối ưu hóa cơ cấu tài sản và nợ phải trả. Ngân hàng đã nhanh chóng chuyển hướng sang các nguồn vốn có chi phí thấp hơn, đồng thời mở rộng cho vay sang các khoản cho vay trung và dài hạn vốn có lợi suất cao hơn. Cụ thể, nguồn vốn liên ngân hàng tăng 14 nghìn tỷ đồng, tương đương +32% so với đầu năm, trong khi tiền gửi của khách hàng giảm -0,3% so với đầu năm. Nguồn vốn bổ sung này được phân bổ cho các khoản cho vay mua nhà (+4 nghìn tỷ đồng), kinh doanh hộ gia đình (+1,7 nghìn tỷ đồng), cho vay tiêu dùng (+1 nghìn tỷ đồng), bán buôn & bán lẻ (+2,8 nghìn tỷ đồng), ngành tài chính (+1 nghìn tỷ đồng), và ngành logistics (+600 tỷ đồng). Cơ cấu giải ngân có sự đa dạng hơn so với cùng kỳ, khi phần lớn vốn giải ngân vào lĩnh vực bất động sản. Do ngân hàng điều chỉnh chênh lệch kỳ hạn giữa nợ và tài sản có, nên tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn tăng lên 30% (từ 28% vào cuối năm 2020).

• Lãi suất huy động bình quân tiếp tục có xu hướng giảm -60 bps so với quý trước và -196 bps so với cùng kỳ xuống 4,31% do VPB thu hút tiền gửi từ khách hàng doanh nghiệp (+3,8% so với đầu năm và +53,4% so với cùng kỳ). Cơ cấu tiền gửi giữa khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp trở nên cân bằng hơn ở mức 51%/49% (so với mức 65%/35% vào cuối Q1/2020). CASA cũng tăng 17% (so với mức 15,5% vào cuối Q4/2020 và 12% vào cuối Q1/2020).

Hệ số CIR cải thiện lên 24% - thấp nhất trong số các ngân hàng niêm yết. Chi phí hoạt động trong quý là 1,5 nghìn tỷ đồng, giảm -15,2% so với cùng kỳ từ mức cao trong Q1/2020 trước khi cắt giảm nhân sự. Sau khi cắt giảm nhân sự trong Q2 và Q3/2020, opex dao động khoảng 1,4 - 1,6 nghìn tỷ đồng mỗi quý.

Với mức giảm của opex, tăng trưởng LNTT cao hơn tăng trưởng TOI (+55% so với +17% so với cùng kỳ). Mặc dù kết quả này đáng khích lệ, chúng tôi cho rằng mức giảm so với cùng kỳ của OPEX sẽ không được duy trì trong các quý tới.

Chất lượng tài sản ổn định. Chúng tôi nhận thấy một số dấu hiệu cho thấy sự cải thiện nhẹ về chất lượng tín dụng tại ngân hàng mẹ, cụ thể như sau:

• Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu được cải thiện lần lượt ở mức 2,13% và 54,2% (so với 2,48% và 50,6% vào cuối năm 2020);

• Tỷ lệ nợ xấu mới hình thành thấp hơn ở mức 0,4% (so với 0,62% trong Q4/2020)

Chỉ số duy nhất đi ngược xu hướng là nợ Nhóm 2, tăng 21,2% so với đầu năm lên 9,3 nghìn tỷ đồng. Theo ngân hàng, 25% trong số dư nợ cho vay này (2,3 nghìn tỷ đồng) đã trở lại trạng thái bình thường và dự kiến sẽ được xếp lại vào nợ Nhóm 1 vào quý tới.

Dư nợ cho vay tái cơ cấu giảm. Trong Q1/2021, lần đầu tiên VPB công bố cơ cấu dư nợ tái cấu trúc đã được đề cập trong các cuộc họp trước đây với 3 thành phần như sau:

• Dư nợ tái cơ cấu thực tế;

• Khoản vay đã qua thời gian thử thách. Đây là những khoản vay đang trong thời gian tái cơ cấu nhưng khách hàng đang trả được nợ theo lịch trả nợ mới trong khoảng thời gian ít nhất 3 tháng;

• Các khoản vay sẽ chuyển thành nợ xấu.

Theo đó, tổng dư nợ tái cơ cấu giảm 16% so với quý trước xuống 23,5 nghìn tỷ đồng cho thấy một số khách hàng đã phục hồi.

FeCredit - Chất lượng tín dụng cần nhiều thời gian hơn để phục hồi

Opex thấp hơn là yếu tố duy nhất góp phần tạo ra lợi nhuận khả quan trong Q1/2021. Do ngân hàng quyết định không mở rộng hoạt động kinh doanh cho đến Q3/2021, tổng dư nợ đi ngang và NII tiếp tục ở mức 4,4 nghìn tỷ đồng, giảm -3,4% so với cùng kỳ. NIM tiếp tục giảm xuống còn 26,9% (so với mức 30,1% trong Q1/2020 và 27,3% trong Q4/2020). Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động trước dự phòng (PPOP) có mức tăng trưởng 9% so với cùng kỳ do số lượng nhân viên giảm. Số lượng nhân viên trung bình tại FeCredit là khoảng 12.500 nhân viên trong Q1/2021 (-28% so với cùng kỳ từ 17.380 trong Q1/2020). Do đó, Opex được kiểm soát ở mức 1 nghìn tỷ đồng (- 28% so với cùng kỳ).

Chi phí tín dụng dự kiến cao hơn vào cuối năm. Tỷ lệ nợ xấu tăng lên 8,2% do 1,3 nghìn tỷ đồng (1,9% tổng dư nợ) được phân loại lại từ dư nợ tái cơ cấu sang nợ xấu. Tổng tài sản có vấn đề (bao gồm nợ nhóm 2, nợ xấu và dư nợ tái cơ cấu) tương đối ổn định ở mức 15,7 nghìn tỷ đồng, tương đương 24% tổng dư nợ. Trong khi đó, chi phí dự phòng bao nợ xấu vẫn ở mức thấp là 1,8 nghìn tỷ đồng và chi phí tín dụng liên tục thấp hơn mức tỷ lệ nợ xấu mới hình thành kể từ Q2/2020. Theo quan điểm của chúng tôi, chất lượng tín dụng của FeCredit có thể mất thêm thời gian để trở về mức bình thường. Do đó, chi phí tín dụng dự kiến sẽ cao hơn vào cuối năm nay.

Ước tính

Chúng tôi đã tính đến khoản lãi sau thuế từ thương vụ bán vốn FeCredit (ước tính khoảng 23 nghìn tỷ đồng) vào dự phóng cho năm 2021. Đồng thời, do không có thông tin về kế hoạch/dự án cụ thể mà ngân hàng có thể giải ngân từ nguồn lợi nhuận này và tăng trưởng tín dụng vẫn phải theo hạn mức tín dụng do NHNN cấp, chúng tôi chỉ giả định rằng thương vụ này sẽ giúp giảm nhu cầu huy động tiền gửi của khách hàng vào năm 2021, do đó, giảm chi phí vốn bình quân. Theo đó, LNTT hợp nhất năm 2021 ước tính đạt 17,7 nghìn tỷ đồng. Giả định chi phí vốn bình quân sẽ giảm xuống 5% (giảm -92 bps so với cùng kỳ). NIM cải thiện lên 9,38% (+69 bps so với cùng kỳ và cao hơn so với mức năm 2019). Trong khi đó, các giả định khác của chúng tôi vẫn không thay đổi. Chúng tôi ước tính ngân hàng mẹ (không bao gồm cổ tức của FeCredit) và FeCredit sẽ đạt LNTT lần lượt là 13,5 nghìn tỷ đồng (+45% so với cùng kỳ) và 4,4 nghìn tỷ đồng (+20% so với cùng kỳ).

Năm 2022, chúng tôi ước tính LNTT của VPB đạt 21 nghìn tỷ đồng (+20% so với cùng kỳ) dựa trên giả định tăng trưởng tín dụng và tiền gửi lần lượt là 16% và 14,8%, NIM ở mức 9,8%. Hệ số CIR tương đối ổn định ở mức 28% và chi phí tín dụng có thể sẽ giảm -40 bps xuống 5%.

Nguồn: SSI

×
tvi logo