VPB: Chi phí dự phòng bắt đầu tăng - KQKD Quý 3/2020

VPB: Chi phí dự phòng bắt đầu tăng - KQKD Quý 3/2020

Lượt xem: 239
  •  

VPB đã công bố kết quả kinh doanh Q3/2020 sát với ước tính của chúng tôi. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,5% so với cùng kỳ. Kết quả này là do tổng thu nhập hoạt động giảm (-0,3% so với cùng kỳ) và chi phí tín dụng tăng nhanh (5,65% so với mức 4,08% trong Q2/2020) trong Q3. Riêng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng mẹ đạt 2 nghìn tỷ đồng (+35,9% so với cùng kỳ) từ mức lợi nhuận thấp trong Q3/2019 trong khi lợi nhuận FeCredit giảm 40% so với cùng kỳ đạt 0,8 nghìn tỷ đồng.

Chất lượng tài sản giảm, với tỷ lệ nợ xấu mới hình thành trong quý tăng lên 1,74% (so với 1,23% trong Q2/2020 và 1,31% trong Q3/2019). Lũy kế 9 tháng đầu năm 2020, VPB đạt 9,4 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế (+30,5% so với cùng kỳ), hoàn thành 92% kế hoạch năm của công ty và 86% ước tính của SSI Research. Hiện tại, chúng tôi không nhận thấy bất kỳ rủi ro đáng kể nào đến ước tính và khuyến nghị của chúng tôi.

Diễn biến chính của VPB

Tăng trưởng tín dụng tăng nhanh ở cả ngân hàng mẹ (+19,3% so với đầu năm) và FeCredit (+6,4% so với đầu năm). Động lực tăng trưởng tín dụng chính của ngân hàng mẹ trong quý là trái phiếu doanh nghiệp với mức tăng 37% so với quý trước (hay tăng 10 nghìn tỷ đồng). Trong khi đó, các khoản vay của khách hàng đối với ngành bất động sản (bao gồm cho vay mua nhà) và ngành xây dựng giảm tốc trong Q3/2020, chỉ đạt mức tăng trưởng +3,3% so với quý trước (hay tăng 2,6 nghìn tỷ đồng) so với mức +17% trong 6 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng phần lớn trái phiếu doanh nghiệp do các doanh nghiệp thuộc ngành bất động sản và ngành xây dựng phát hành – vẫn là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất tới tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong quý. Tổng tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các ngành này ước tính chiếm khoảng 40% tổng dư nợ.

Tiền gửi của doanh nghiệp tăng trưởng mạnh hỗ trợ tỷ lệ CASA cải thiện. Chỉ số tốt nhất trong số liệu công bố theo quý là tỷ lệ CASA tăng từ 12% trong Q2/2020 lên 15,6% trong Q3/2020 (tăng lên 9 nghìn tỷ đồng theo giá trị tuyệt đối). Điều này có thể xuất phát từ việc gia tăng tiền gửi doanh nghiệp là 14,9 nghìn tỷ đồng (+17% so với quý trước). Nhóm khách hàng doanh nghiệp thường có tỷ lệ CASA cao hơn so với khách hàng cá nhân. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng cá nhân giảm còn 10 nghìn tỷ đồng (-7% so với cùng kỳ). Với việc cải thiện CASA, lãi suất huy động bình quân của VPB giảm 64 bps so với cùng kỳ và 34 bps so với quý trước về 5.68%.

NIM tiếp tục có xu hướng giảm. Mặc dù chi phí vốn cải thiện và gia tăng giải ngân vào các tài sản có lợi suất cao hơn (trái phiếu doanh nghiệp), NIM của ngân hàng vẫn giảm 132 bps so với cùng kỳ và 4 bps so với quý trước còn 8,26%. Chúng tôi cho rằng có hai lý do chính bao gồm: (1) FeCredit tập trung cho các khách hàng hiện tại vay với lợi suất thấp (so với khách hàng mới); và (2) số dư nợ tái cấu trúc có thể không được cải thiện trong kỳ (khoảng 10% trong tổng dư nợ), do đó, lãi thoái thu liên quan đến các khoản nợ tái cơ cấu này tiếp tục làm giảm lợi suất tài sản chung.

Chất lượng tài sản giảm. Các chỉ tiêu về chất lượng tài sản ngày càng yếu đi với tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng lên 3,65% (so với mức 3,19% tại thời điểm cuối Q2/2020). Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mẹ và FeCredit lần lượt ở mức 2,66% và 6,91%. Tỷ lệ nợ xấu mới hình thành tăng lên mức cao nhất trong vòng 8 quý là 1,74%. Trong khi chi phí dự phòng (không bao gồm dự phòng trái phiếu VAMC trong Q3/2019) tăng 25% so với cùng kỳ, tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu vẫn giảm xuống còn 47,9% (so với mức 52% trong Q1/2020 và 49% trong Q2/2020).

Thu nhập từ phí phục hồi. Thu nhập phí ròng của ngân hàng mẹ tăng 26,7% so với cùng kỳ, phần lớn là nhờ dịch vụ thanh toán (+40% so với cùng kỳ) bù đắp cho cả dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ tư vấn lần lượt giảm - 13% và -20% so với cùng kỳ. Chúng tôi cũng ước tính thu nhập phí của FeCredit phục hồi (cụ thể ở bảo hiểm hạn mức tín dụng) do tăng trưởng tín dụng đã bắt đầu phục hồi.

(Nguồn: SSI)

×
tvi logo