VPB: Cập nhật kết quả kinh doanh Q2/2021

VPB: Cập nhật kết quả kinh doanh Q2/2021

Lượt xem: 75
  •  

Luận điểm đầu tư: Nhìn chung lợi nhuận của VPB tương đối bất ngờ với nhiều yếu tố đan xen. Trong khi lợi nhuận ngân hàng mẹ tốt hơn ước tính đạt 4,7 nghìn tỷ đồng (+123% YoY), LNTT công ty con như FECredit thấp hơn ước tính, giảm còn khoảng 320 tỷ đồng (-79% YoY). Trên cơ sở hợp nhất, LNTT đạt 5 nghìn tỷ đồng (+37% YoY) trong Q2/2021 và 9 nghìn tỷ đồng (+37% YoY) trong 6T2021, hoàn thành 54% kế hoạch năm tại ĐHCĐ và 51% ước tính của chúng tôi. Tăng trưởng ngân hàng mẹ duy trì tốt nhờ mở rộng mạnh mảng cho vay mua nhà, NIM tăng và lãi từ chứng khoán đầu tư (1,39 nghìn tỷ đồng). Trong khi đó, FeCredit có tăng trưởng tín dụng giảm, dự phòng cao và NIM giảm.

Mặc dù chúng tôi cho rằng Ngân hàng có nhiều cách để cải thiện NIM nhờ nguồn thu từ thương vụ thoái vốn FeCredit, CASA cải thiện và dư địa để tối ưu hóa cơ cấu tài sản, chất lượng tài sản vẫn có thể ảnh hưởng đến triển vọng dài hạn của Ngân hàng.

Chúng tôi đang xem xét dự báo và giá mục tiêu dựa trên cuộc họp với Ngân hàng vào cuối tháng 7 sắp tới.

Tin cập nhật

Cho vay bán lẻ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tổng tín dụng của VPB tăng 4,5% YTD (hay 14,5 nghìn tỷ đồng), nhờ cho vay mua nhà (+26,1% YTD hay 9,5 nghìn tỷ đồng), hộ kinh doanh (+9,2% YTD hay 4,7 nghìn tỷ đồng) và khách hàng doanh nghiệp (+2,1% YTD ha 3,4 nghìn tỷ đồng). Dư nợ cho vay tiêu dùng giảm -7,7% YTD hay 4,7 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu cho vay theo ngành có sự thay đổi với cho vay xây dựng và BĐS giảm (-3,1% YTD), và cho vay kinh doanh chứng khoán (+21,5% YTD) và lĩnh vực tài chính (+119%YTD) đều tăng. NIM có xu hướng trái ngược giữa ngân hàng mẹ và FeCredit. Tại FeCredit, NIM giảm.

Trong khi tại Ngân hàng mẹ, NIM tăng 136 bps so với cùng kỳ và 28 bps so với quý trước đạt 5,85%. Trên cơ sở hợp nhất, NIM tăng 66 bps so với cùng kỳ nhưng giảm 18 bps so với quý trước đạt 8,95%. Chúng tôi cho rằng NIM tăng tại Ngân hàng mẹ là do tăng trưởng cho vay bán lẻ tốt và CASA cải thiện lên 18,4%.

Theo đó, thu nhập lãi ròng (NII) tăng lên 9,2 nghìn tỷ đồng (+20% YoY). Đối với thu nhập ngoài lãi, nếu không tính đến khoản lãi bất thường từ chứng khoán đầu tư (1,39 nghìn tỷ đồng), tăng trưởng ở mức khá là 14% YoY.

Chi phí hoạt động được kiểm soát nhờ chi phí quản lý giảm (-2% YoY), chi phí khấu hao và chi phí thuê văn phòng giảm (-8% YoY). CIR (không gồm lãi kinh doanh chứng khoán) là 26% trong Q2/2021 (so với 29% trong Q2/2020).

Chất lượng tài sản vẫn là mối quan ngại lớn nhất. Nợ xấu ngân hàng mẹ là 2,1% và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu cải thiện nhẹ lên 57,8% (so với 50,7% vào cuối năm 2020). Tuy nhiên, hai tỷ lệ này tại FeCredit lần lượt ở mức 9% và 32% so với 6,6% và 37,7% vào cuối năm 2020. Cũng cần lưu ý rằng ngân hàng vẫn còn một lượng đáng kể nợ tái cơ cấu, đây là một chủ đề cần được xem xét tại cuộc họp sắp tới.

Nguồn: SSI

×
tvi logo