VCB: Tóm tắt Q3/2021: NIM duy trì được tốt hơn kỳ vọng

VCB: Tóm tắt Q3/2021: NIM duy trì được tốt hơn kỳ vọng

Lượt xem: 20
  •  

KQKD Q3/2021 của VCB tốt hơn kỳ vọng, với LNTT đạt 5,7 nghìn tỷ đồng (+15% so với cùng kỳ). Tăng trưởng tín dụng ổn định (+11,6% so với đầu năm, hay +19,4% so với cùng kỳ) và NIM ở mức 3,15% (- 35 bps so với quý trước nhưng +14 bps so với cùng kỳ) đã mang lại kết quả khả quan. Mặc dù quy mô của gói hỗ trợ tương đối lớn, tốc độ thu hẹp NIM so với quy trước của VCB cũng chỉ ở mức tương đương với các ngân hàng khác. Trong Q4/2021, chúng tôi kỳ vọng NIM giảm nhẹ do ngân hàng có thể tiếp tục duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ khách hàng, trong khi đó không còn nhiều dư địa để cải thiện chi phí vốn. Tuy nhiên, chúng tôi tăng nhẹ ước tính LNTT năm 2021 thêm 3% lên 25 nghìn tỷ đồng (+8,6% so với cùng kỳ). Chúng tôi cũng chuyển cơ sở định giá sang cuối năm 2022 (từ áp dụng mức trung bình năm 2021-2022) và áp dụng hệ số P/B mục tiêu không đổi là 3,0x. Do đó, giá mục tiêu 1 năm cho cổ phiếu VCB được điều chỉnh lên 117.000 đồng/cổ phiếu (từ 111.500 đồng/cổ phiếu), tiềm năng tăng giá là 20%. Mặc dù lạc quan hơn về triển vọng trung và dài hạn của VCB, chúng tôi cho rằng mức tăng trưởng lợi nhuận trong 1-2 quý tới có thể không khả quan và do đó ảnh hưởng đến diễn biến giá trong ngắn hạn của cổ phiếu. Chúng tôi duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng những đợt cổ phiếu điều chỉnh xuống mức giá thấp là cơ hội để gia tăng tỷ trọng đối với nhà đầu tư dài hạn.

Tin cập nhật

NIM được duy trì tốt hơn kỳ vọng. Chúng tôi ước tính các gói hỗ trợ cắt giảm lãi suất cho vay (với ước tính tác động lên thu nhập lãi thuần (NII) là 5 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2021, tương đương 2,5 nghìn tỷ đồng mỗi quý), cùng với việc thoái lãi dự thu liên quan đến các khoản vay tái cơ cấu sẽ kéo NIM giảm khoảng 80-90 bps so với quý trước trong Q3/2021. Tuy nhiên, thực tế trong Q3/2021 NIM chỉ giảm 35 bps so với quý trước. Mức độ sụt giảm này tương đương như mức giảm trung bình được quan sát thấy tại các Ngân hàng thương mại cổ phần khác (-34 bps so với quý trước). Theo quan điểm của chúng tôi, điều này có thể được lý giải như sau:

• Tăng trưởng tín dụng ổn định, được thúc đẩy bởi cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. VCB đạt mức tăng trưởng tín dụng 11,5% so với đầu năm, trong đó nhóm khách hàng doanh nghiệp và cá nhân lần lượt tăng 10,4% và 11,6% so với đầu năm. Các ngành nghề có mức tăng trưởng mạnh nhất bao gồm sản xuất, vận tải và thương mại.

• Tỷ lệ CASA đang tăng lên, đạt 34,3% vào cuối Q3/2021. CASA liên tục được cải thiện qua các quý vừa qua. Số dư CASA tăng 9% so với quý trước đạt 380 nghìn tỷ đồng vào cuối tháng 9. Ngoài yếu tố mùa vụ, kết quả đáng khích lệ này cũng là kết quả của các gói phí thanh toán được triển khai từ Q3/2020.

• Các gói hỗ trợ khiến NII giảm 2 nghìn tỷ đồng (chiếm 5,5% NII/năm) trong Q3/2021 (so với giả định của chúng tôi là 2,5 nghìn tỷ đồng). Theo NHNN, VCB (trong khoảng thời gian từ ngày 15/7 đến ngày 30/9) đã cắt giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ 1,1 triệu tỷ đồng. Điều này làm NII giảm 2 nghìn tỷ đồng, tương đương 40% NII trong nửa cuối năm 2021.

Do NIM vượt mức 3% và tăng trưởng tín dụng là 19,4% so với cùng kỳ, NII đã tăng 19,5% so với cùng kỳ đạt 10,4 nghìn tỷ đồng.

Trong khi hoạt động kinh doanh ngoại hối (1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ) và thu từ nợ xấu đã xóa (600 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ) khá ổn định, thì lợi nhuận thuần hoạt động dịch vụ tiếp tục bị ảnh hưởng do giãn cách xã hội trong Q3/201 – giảm -10,3% so với cùng kỳ (đạt 1,1 nghìn tỷ đồng). Chi tiết về các khoản thu dịch vụ như sau:

• Thu nhập từ ngân hàng số tăng 25% so với cùng kỳ, hoàn thành 65% kế hoạch cả năm. Trong Q3/2021, số lượng khách hàng mới từ kênh kỹ thuật số đã tăng 500.000 khách lên 5,7 triệu khách. Vào cuối quý 3, tổng số khách hàng của VCB đạt 16 triệu khách, trong đó 75% khách hàng là khách sử dụng thường xuyên. Theo quan điểm của chúng tôi, mặc dù sở hữu lượng khách hàng lớn nhất nhưng VCB vẫn chưa hoàn toàn tận dụng hết lợi thế này để đẩy mạnh tăng trưởng doanh thu. Chi tiêu hàng năm cho CNTT của ngân hàng khá thấp, ở mức 100-200 tỷ đồng (tương đương 0,4% TOI) so với các ngân hàng cùng ngành (1-5% TOI), thấp hơn so với phân khúc ngân hàng tư nhân.

• Thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại giảm 0,2% so với cùng kỳ và thị phần của VCB giảm nhẹ từ 16% trong năm ngoái xuống 15,3% trong 9T2021.

• Thu nhập từ dịch vụ thẻ cũng sụt giảm do các gói miễn giảm phí.

• Doanh số bảo hiểm (bancassurance) đạt 100 tỷ đồng trong Q3/2021 (so với 150-200 tỷ đồng mỗi quý trong 6T2021). Theo ngân hàng, nếu doanh số bancassurance đạt được mục tiêu đã đề ra trong hợp đồng độc quyền, thì VCB sẽ nhận được khoản thưởng hiệu quả hoạt động. VCB kỳ vọng doanh số bancassurance trong năm 2021 đạt 500 tỷ đồng và tiền thưởng KPI tối thiểu là 100 tỷ đồng.

Mặc dù có sự suy yếu nhưng chất lượng tài sản không phải là mối quan tâm lớn tại VCB. Nợ nhóm 2 tăng 59% so với quý trước lên 10,9 nghìn tỷ đồng, xuất phát từ một số doanh nghiệp thuộc ngành khách sạn và vận tải ở miền Trung và miền Nam. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu tăng 11% so với quý trước lên 6,3 nghìn tỷ đồng và các khoản vay tái cơ cấu tăng gần gấp đôi lên 9 nghìn tỷ đồng. Tổng các khoản cho vay bị ảnh hưởng chiếm khoảng 4-5% tổng sư nợ. Tuy nhiên, tổng mức trích lập dự phòng vào cuối tháng 9 là 26,4 nghìn tỷ đồng, cao hơn tổng tài sản có vấn đề (Nợ nhóm 2, nợ xấu và nợ tái cơ cấu).

Ngân hàng cũng chia sẻ rằng trong đợt bùng phát dịch Covid-19 trước đó, tỷ lệ các khoản nợ tái cơ cấu chuyển thành nợ xấu chỉ ở mức 4-5%.

Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy kết quả Q3/2021 của VCB tương đối tốt so với kỳ vọng, với các chỉ số chính vẫn được duy trì ổn định. Kết quả hoạt động đáng khích lệ như vậy sẽ giúp ngân hàng đạt được kế hoạch đã đề ra tại ĐHCĐ.

Kế hoạch của ban lãnh đạo

• Tăng trưởng tín dụng: Ngân hàng đang chờ Ngân hàng Nhà nước chấp thuận nâng hạn mức tín dụng cho cả năm 2021.

• NIM dự kiến sẽ ổn định ở mức 3,2%. Trong trường hợp dịch Covid-19 bùng phát, ngân hàng có thể sẽ phải hỗ trợ thêm cho khách hàng và trong trường hợp đó, ngân hàng dự kiến NIM sẽ giảm xuống 3,1%.

• Chất lượng tài sản:

o VCB có kế hoạch xử lý nợ xấu trong Q4/2021 với mục tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới 1% vào cuối năm. LLCR mục tiêu trong khoảng 200-250%.

o Các khoản nợ tái cơ cấu có thể tăng lên khoảng 11-12 nghìn tỷ đồng vào cuối năm. Trước đó, VCB đã ước tính trích lập dự phòng cho các khoản nợ tái cơ cấu là 4 nghìn tỷ đồng và đã lên kế hoạch trích lập toàn bộ trong năm 2021 thay vì trải đều trong thời gian 3 năm. Khoản 4 nghìn tỷ đồng này đã nằm trong kế hoạch tổng chi phí dự phòng cho cả năm 2021 ở mức 10 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, với sự gia tăng của các khoản nợ tái cơ cấu hiện tại và dự kiến, chi phí dự phòng có thể vượt so với con số kế hoạch.

• Kế hoạch tăng vốn:

o Cổ tức bằng cổ phiếu: VCB kỳ vọng quá trình này sẽ được hoàn tất vào cuối năm.

o Phát hành riêng lẻ: VCB sẽ bắt đầu triển khai tìm đơn vị tư vấn tài chính và pháp lý vào đầu 2022. Do quá trình này tốn nhiều thời gian, VCB kỳ vọng thương vụ sẽ hoàn tất sớm nhất vào giữa năm 2022.

Ước tính và định giá

Chúng tôi nâng giả định NIM đối với VCB từ 2,81% lên 2,90%, thấp hơn so với kế hoạch của ban lãnh đạo. Chúng tôi để dành dư địa cho trường hợp có thể tiếp tục có các gói hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid19. Trong số 3 ngân hàng nhà nước niêm yết, VCB đã tiến hành hỗ trợ khách hàng nhiều nhất trong nhiều đợt bùng phát dịch Covid-19 vừa qua. Trong khi đó, chúng tôi giữ nguyên giả định chi phí tín dụng và trích lập dự phòng lần lượt ở mức 1,22% và 11 nghìn tỷ đồng.

Từ kết quả Q3/2021, chúng tôi tăng nhẹ ước tính LNTT năm 2021 thêm 3% lên 25 nghìn tỷ đồng (+8,6% so với cùng kỳ), nhưng giảm 6% trong năm 2022 đạt 29,8 nghìn tỷ đồng (+18,9% so với cùng kỳ).

Chúng tôi chuyển cơ sở định giá sang năm 2022 (từ việc áp dụng mức bình quân năm 2021-2022) và áp dụng P/B mục tiêu không đổi là 3,0x. Do đó, giá mục tiêu 1 năm của cổ phiếu VCB được điều chỉnh lên 117.000 đồng/cổ phiếu (từ 111.500 đồng/cổ phiếu), tiềm năng tăng giá là 20%. Mặc dù lạc quan hơn về triển vọng trung và dài hạn của VCB, chúng tôi cho rằng mức tăng trưởng lợi nhuận trong 1-2 quý tới có thể không khả quan và do đó ảnh hưởng đến diễn biến giá trong ngắn hạn của cổ phiếu. Chúng tôi duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng những đợt cổ phiếu điều chỉnh xuống mức giá thấp là cơ hội để gia tăng tỷ trọng đối với nhà đầu tư dài hạn. Yếu tố hỗ trợ tăng chính đối với khuyến nghị của chúng tôi là Việt Nam phục hồi nhanh hơn dự kiến sau đại dịch Covid19, trong khi rủi ro giảm chính đối với khuyến nghị của chúng tôi là nợ xấu và nợ tái cơ cấu cao hơn dự kiến.

Nguồn: SSI

×
tvi logo