VCB: Dự phòng bao nợ xấu lớn và chất lượng tài sản tốt sẽ giúp gia tăng lợi nhuận

VCB: Dự phòng bao nợ xấu lớn và chất lượng tài sản tốt sẽ giúp gia tăng lợi nhuận

Lượt xem: 47
  •  

Tóm tắt quan điểm đầu tư: VCB đạt kết quả kinh doanh Q4/2020 tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó tổng thu nhập hoạt động (TOI) và lợi nhuận trước thuế (LNTT) lần lượt đạt 14,4 nghìn tỷ đồng (+35% so với cùng kỳ) và 7,1 nghìn tỷ đồng (+28,5% so với cùng kỳ). Năm 2020, TOI và LNTT hợp nhất lần lượt đạt 49 nghìn tỷ đồng (+7,1% so với cùng kỳ) và 23 nghìn tỷ đồng (- 0,3% so với cùng kỳ), sát với ước tính của chúng tôi.

Năm 2020, VCB đã tận dụng lợi thế cạnh tranh về giá để thu hút nhiều khách hàng tín dụng hơn, đưa VCB trở thành ngân hàng tăng dư nợ cho vay lớn nhất trong năm. Doanh thu phí bancassurance diễn ra đúng kế hoạch. Lần đầu tiên, thu nhập hoạt động trước dự phòng (PPOP) của VCB đứng đầu trong ngành (vượt xa BID). VCB cũng rất chủ động trong việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong năm, tạo tiền đề cho xu hướng tăng trưởng lợi nhuận hậu Covid-19. Chúng tôi điều chỉnh tăng ước tính LNTT năm 2021 của VCB lên 29,3 nghìn tỷ đồng (+27,3% so với cùng kỳ).

Chúng tôi cũng tăng giá mục tiêu 1 năm đối với cổ phiếu VCB lên 108.600 đồng/cp (từ 97.400 đồng/cp), với giả định giá phát hành riêng lẻ sẽ ở mức 100.000 đồng/cp, cao hơn 11,1% so với ước tính ban đầu của chúng tôi. Với tổng mức sinh lời tiềm năng là 11,4%, chúng tôi duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với cổ phiếu VCB.

Diễn biến chính của VCB

Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trong Q4/2020 chủ yếu nhờ vào ngân hàng bán lẻ: Năm 2020, cho vay khách hàng (bao gồm trái phiếu doanh nghiệp) tăng +14% so với cùng kỳ - cao hơn mức bình quân của ngành là 12,1%. Theo giá trị tuyệt đối, cho vay khách hàng tăng 103,5 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ, đây là mức cao nhất trong toàn ngành.

Tương tự với các ngân hàng khác, tín dụng tăng 53% trong Q4/2020. Cho vay bán lẻ, bao gồm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp SME là động lực tăng trưởng chính trong cả năm 2020, tăng +20,4% so với cùng kỳ. Điều này nâng tỷ trọng cho vay bán lẻ lên 53,4% trong tổng dư nợ cho vay - so với mức 50,7% trong năm 2019.

Cho vay các doanh nghiệp lớn tăng đáng kể trong Q4/2020 (+6,8% so với quý trước, +8% so với cùng kỳ), nhờ các doanh nghiệp FDI (+16,7% so với cùng kỳ, chiếm 13,2% trong tổng cho vay), trong khi trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục giảm cả về giá trị tuyệt đối (-21,4% so với cùng kỳ) và so với tổng tài sản sinh lãi (chiếm 0,4% tổng tài sản so với mức 0,6% trong năm 2019).

NIM giảm do lãi suất cho vay giảm: Trong năm 2020, NIM giảm -18 bps so với cùng kỳ xuống 2,91%, do lợi suất tài sản thấp hơn (giảm -51 bps so với cùng kỳ xuống 5,56%), giảm nhiều hơn mức giảm của chi phí vốn (giảm -30 bps so với cùng kỳ còn 2,84%).

Chi phí vốn bình quân tiếp tục xu hướng giảm trong Q4/2020 (-73 bps so với quý trước) do:

• Ngân hàng tiếp tục cắt giảm lãi suất huy động từ -30 bps đến -40 bps so với quý trước ở tất cả các kỳ hạn, giống như các ngân hàng khác. Lãi suất huy động bình quân quý 4 tiếp tục giảm -69 bps so với quý trước xuống 2,52%/năm, đây là mức thấp nhất trong vòng 4 năm qua.

• Số dư CASA phục hồi mạnh mẽ trong Q4/2020 (+18,5% so với cùng kỳ), chủ yếu là do sự phục hồi của khách hàng doanh nghiệp. Tăng trưởng CASA cao hơn so với tăng trưởng tiền gửi của khách hàng (10,9% so với cùng kỳ), nâng tỷ lệ CASA +200 bps so với cùng kỳ lên 32,8% - đứng thứ hai trong số các ngân hàng mà chúng tôi nghiên cứu (sau TCB).

Trong khi đó, lợi suất tài sản giảm đáng kể, chủ yếu là do lãi suất cho vay liên ngân hàng giảm -85 bps so với cùng kỳ và lãi suất cho vay khách hàng bình quân giảm -57 bps so với cùng kỳ. Những điều chỉnh này phù hợp với thị trường chung, cũng như các gói tín dụng hỗ trợ được triển khai, có quy mô lớn nhất trong toàn ngành. Trong năm 2020, VCB đã thực hiện 5 đợt giảm lãi suất, trong đó có 4 đợt hỗ trợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và 1 đợt để hỗ trợ miền Trung bị lũ lụt. Đến cuối năm 2020, có 442 nghìn tỷ đồng dư nợ cho vay theo chương trình ưu đãi (chiếm 53% tổng dư nợ), với lãi suất giảm từ 0,5-2,5%/năm. Tổng cộng, thu nhập lãi ròng (NII) tăng +4,8% so với cùng kỳ lên 36,2 nghìn tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi đạt tăng trưởng ở mức vừa phải +14,5% so với cùng kỳ, phần lớn là do thu nhập phí ròng (+53,4% so với cùng kỳ), kinhd doanh ngoại hối (+15,6% so với cùng kỳ) và thu nhập từ kinh doanh và đầu tư chứng khoán (+15% so với cùng kỳ).

Thu nhập từ phí dịch vụ thanh toán giảm -3% so với cùng kỳ do dịch vụ thanh toán quốc tế (một lợi thế của VCB) bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19. Ngược lại, các dịch vụ thanh toán trong nước được mở rộng với việc cho ra mắt ứng dụng Digibank vào tháng 7/2020, giúp ngân hàng thu hút 2,9 triệu khách hàng mới sử dụng ngân hàng điện tử - tăng 21,8% so với cùng kỳ. Theo Thông tư 04 chi phí thanh toán liên ngân hàng được cắt giảm -50%, nhờ vậy, thu nhập phí ròng từ dịch vụ thanh toán vẫn tăng +22% so với cùng kỳ.

Năm 2020 là năm đầu tiên VCB bắt đầu bán sản phẩm bancassurance của FWD (kể từ tháng 4/2020), với tổng doanh thu phí bảo hiểm năm đầu tiên (FYP) đạt 417 tỷ đồng, tăng +94% so với cùng kỳ, hoàn thành 105% kế hoạch năm. Doanh thu từ bancassurance đạt hơn 200 tỷ đồng, vượt kế hoạch 150 tỷ đồng.

Ngân hàng bắt đầu ghi nhận một phần năm (20%) phí trả trước, khoảng 73 triệu USD hay tương đương ~ 1,7 nghìn tỷ đồng. Nếu không có khoản mục này, tăng trưởng thu nhập phí ròng sẽ ở mức +14,7% so với cùng kỳ.

Thu nhập từ kinh doanh ngoại hối đạt 3,9 nghìn tỷ đồng, +15,6% so với cùng kỳ, cao gấp đôi so với đối thủ cạnh tranh gần nhất là BID. Doanh số giao dịch ngoại hối đạt 53,5 tỷ USD, với mức chênh lệch giá mua-bán gia tăng do giá mua cố định của ngân hàng trung ương trong 11 tháng đầu năm - mặc dù chỉ số Dollar Index (DXY) giảm khoảng -4% so với đầu năm xuống mức đáy của 2 năm.

Tổng chi phí vận hành được quản lý tốt, với hệ số CIR giảm xuống 32,7% từ 34,6% trong năm 2019, thấp thứ ba trong ngành (sau VPB và TCB). Điều này chủ yếu là do chi phí nhân viên hầu như không đổi ở mức -0,8% so với cùng kỳ mặc dù số lượng nhân viên tăng +5,9% so với cùng kỳ.

Tích cực trích lập dự phòng để cải thiện chất lượng tài sản: Số dư nợ xấu giảm -9,9% so với cùng kỳ, giúp tỷ lệ nợ xấu giảm xuống chỉ còn 0,62%, thấp thứ hai (sau TCB). Tỷ lệ dư nợ cho vay quá hạn đi ngang ở mức 1,14%, nằm trong nhóm thấp nhất trong ngành (sau ACB và TCB).

VCB đã trích lập 9,9 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro tín dụng, tăng +46% so với cùng kỳ. Quỹ dự phòng nợ xấu tăng vọt +86% so với cùng kỳ, đưa tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLC) từ 180% trong năm 2019 tăng lên 370%.

Các khoản dư nợ cho vay tái cấu trúc giảm -50,4% so với quý 3/2020 còn 5,2 nghìn tỷ đồng, chiếm ~ 0,6% tổng dư nợ. Với quy mô nhỏ, chúng tôi coi rủi ro ở đây là không đáng kể.

Ước tính năm 2021 và định giá

Năm 2021, ban lãnh đạo của VCB đặt kế hoạch tăng trưởng tài sản, tiền gửi và tín dụng lần lượt là 6%, 8% và 12% so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và NIM dự kiến lần lượt là dưới 1% và 3,1%. LNTT dự kiến tăng 12% so với cùng kỳ lên 25,2 nghìn tỷ đồng.

Gần đây, để hỗ trợ nền kinh tế, VCB đã công bố giảm lãi phải trả cho ngân hàng từ 5% -10% cho các khách hàng doanh nghiệp và giảm 0,2% lãi suất cho vay hộ kinh doanh cá thể đối với những khách hàng chịu tác động của dịch Covid-19. Việc cắt giảm lãi suất sẽ kéo dài trong ba tháng, kết thúc vào ngày 22/5/2021. Có khoảng 105.000 khách hàng với tổng giá trị khoản vay là 350 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 40% dư nợ của VCB) sẽ được hưởng hỗ trợ của chương trình này.

Chúng tôi ước tính LNTT của VCB 2021 đạt 29,3 nghìn tỷ đồng (+27,3% so với cùng kỳ), với giả định tăng trưởng tín dụng, tiền gửi và tài sản lần lượt là 12,8%, 10,9% và 14% so với cùng kỳ.

Chúng tôi ước tính NIM sẽ tăng nhẹ lên 3,03% với chi phí vốn được cải thiện và tốc độ tăng trưởng cho vay liên ngân hàng thấp hơn. Do đó, chúng tôi ước tính NII sẽ tăng +16,4% so với cùng kỳ. Chúng tôi ước tính thu nhập phí ròng sẽ tăng +8,2% so với cùng kỳ, nhờ bancassurance (+60% so với cùng kỳ) và dịch vụ thanh toán (+20% so với cùng kỳ), trong khi thu nhập ngoài lãi khác ước tính tăng +2,9% so với cùng kỳ.

Hệ số CIR ước tính tăng lên 34%, do chi phí nhân viên sẽ tăng trở lại mức trước dịch Covid-19 và tiếp tục đầu tư vào số hóa. Trong khi đó, chi phí trích lập dự phòng ước tính giảm -19,5% so với cùng kỳ, với tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu tương đương mức năm 2020 và khả năng nợ xấu mới hình thành thấp hơn trong năm 2021.

Với mức giá 98.200 đồng/cổ phiếu, VCB đang giao dịch ở mức P/B 2020 và 2021 lần lượt là 3,6x và 2,7x. Chúng tôi điều chỉnh tăng giá mục tiêu 1 năm cho VCB lên 108.600 đồng/cp (từ 97.400 đồng/cp), do chúng tôi tăng giả định giá phát hành riêng lẻ đối với cổ phiếu VCB từ 90.000 đồng/cổ phiếu lên 100.000 đồng/cổ phiếu, do môi trường lãi suất giảm kéo dài. Với mức giá mục tiêu mới đối với cổ phiếu VCB, triển vọng tăng giá là 10,6%.

Do ngân hàng thường chi trả cổ tức 8% bằng tiền mặt hàng năm, tỷ suất cổ tức khi đó sẽ là 0,81%. Với tổng mức sinh lời tiềm năng là 11,4%, chúng tôi duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với cổ phiếu VCB.

Rủi ro: Rủi ro chính đối với khuyến nghị của chúng tôi là tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tái cấu trúc cao hơn ước tính. Rủi ro khác là giá phát hành riêng lẻ thấp hơn ước tính.

Nguồn: SSI

×
tvi logo