Triển vọng TTCK Việt Nam 2H 2021: Nền tảng cơ bản tiếp tục được củng cố

Triển vọng TTCK Việt Nam 2H 2021: Nền tảng cơ bản tiếp tục được củng cố

Lượt xem: 135
  •  

Chúng tôi đánh giá dư địa tăng giá của thị trường vẫn còn tương đối dồi dào trong 6 tháng cuối năm, với động lực tiếp tục đến từ sự khởi sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nhóm doanh nghiệp niêm yết (đặc biệt nhóm vốn hoá lớn thuộc các ngành ngân hàng, thép, chứng khoán, tiện ích, công nghệ thông tin…), trong bối cảnh điều kiện thị trường được đánh giá sẽ tiếp tục duy trì trạng thái thuận lợi (tăng trưởng kinh tế ở mức cao, lạm phát không vượt quá mức mục tiêu chính phủ đề ra, lãi suất duy trì ở mức thấp, tỷ giá biến động ổn định…). Sử dụng các so sánh tương quan với TTCK khu vực cũng như bản thân VNIndex trong quá khứ, kết hợp với các điều kiện thị trường ở thời điểm hiện tại, chúng tôi dự phóng mức điểm phù hợp của chỉ số VNIndex vào thời điểm cuối năm là 1,480 điểm (tương ứng P/E 2021 18 lần, TTM EPS 2021 bình quân các doanh nghiệp trong rổ VNIndex tăng 13% so với mức hiện tại)

Bất cứ nhịp điều chỉnh đáng kể nào của thị trường (trong kịch bản các yếu tố rủi ro không làm thay đổi điều kiện cơ bản của thị trường trong dài hạn) đều là cơ hội để nhà đầu tư gia tăng tỷ trọng, tích luỹ cổ phiếu. Chúng tôi đánh giá nhịp điều chỉnh khả năng cao nhất sẽ xuất hiện trong nửa sau của quý 3 khi hiệu ứng tích cực từ mùa báo cáo KQKD Q2 qua đi, áp lực chốt lời vùng giá cao cần được giải toả, và các yếu tố rủi ro gia tăng (FED đề cập đến việc giảm quy mô chương trình mua vào tài sản trong kỳ họp tháng 9, giá cả hàng hoá tiếp tục tăng khiến gia tăng rủi ro về lạm phát, tái bùng phát dịch Covid-19 bởi chủng mới trong khi chương trình tiêm chủng vaccine trong nước chậm triển khai…). Đối với chiến lược đầu tư tổng thể và xuyên suốt, chúng tôi cho rằng mua & nắm giữ là chiến lược hợp lý với phần đông nhà đầu tư khi mà các nhịp biến động của thị trường nhiều khả năng sẽ tăng dần biên độ trong nửa cuối năm, khiến hoạt động trading kém hiệu quả nếu nhà đầu tư không nắm bắt được điểm vào/ra phù hợp.

Trong nửa sau 2021, Bộ phận phân tích doanh nghiệp của chúng tôi đánh giá tích cực đối với triển vọng các ngành bất động sản, bất động sản khu công nghiệp, điện, cảng biển, công nghệ thông tin, ngân hàng, thuỷ sản và dầu khí. Trong đó, các động lực chính thúc đẩy tăng trưởng ở các ngành này có thể kể đến như tác động tích cực của môi trường lãi suất thấp (ngân hàng, bất động sản), xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng đến Việt Nam và việc thương mại quốc tế dần khôi phục khi chương trình tiêm vaccine được đẩy mạnh ở các nước phát triển (bất động sản khu công nghiệp, cảng biển, thuỷ sản), xu hướng tăng của giá hàng hoá (dầu khí), hay 1 số ngành vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng mà không chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các biến động vĩ mô (công nghệ thông tin, điện)…

I. Triển vọng TTCK 2H 2021

TTCK Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu năm

TTCK Việt Nam nửa đầu năm được hỗ trợ mạnh mẽ bởi sự phục hồi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết, với bối cảnh mặt bằng lãi suất được duy trì ở mức thấp, lạm phát, tỷ giá diễn biến tương đối ổn định.

Bất chấp tác động của dịch Covid-19, chỉ số VNIndex đã tăng trưởng 23% về điểm số từ đầu năm đến nay, trong khi giá trị giao dịch tăng gấp hơn 4 lần so với cùng kỳ.

Định giá TTCK Việt Nam vẫn đang ở mức tương đối hấp dẫn

Dù vậy, với việc lợi nhuận các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh trong quý 1 (giúp TTM EPS bình quân các doanh nghiệp trong rổ VNIndex tăng 14%), mức P/E của chỉ số VNIndex hiện vẫn duy trì ở mức hợp lý quanh 18.6 lần. Mức P/E 18.6 lần này cao hơn đáng kể so với mức P/E trung bình 2 năm gần nhất ở 15.9 lần. Tuy nhiên, dự báo đà tăng mạnh ở lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết sẽ duy trì trong 3 quý còn lại của năm, dự phóng EPS 2021 của bình quân các doanh nghiệp trong rổ VNIndex tăng 13% so với mức hiện tại, P/E forward 2021 của chỉ số VNIndex giảm xuống quanh 16.5 lần (Biểu đồ 5), là vùng P/E hấp dẫn trong bối cảnh vĩ mô nhiều yếu tố thuận lợi.

So sánh tương đối các chỉ số của VNIndex với nhóm các thị trường trong khu vực, TTCK Việt Nam có sự hấp dẫn vượt trội nhờ: i) các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh về lợi nhuận, khi hưởng lợi từ nền kinh tế tăng trưởng cao, môi trường lãi suất giảm, qua đó giúp P/E của VNIndex từ mức gần tương đương với 3 thị trường còn lại trong nhóm ASEAN4 thời điểm đầu 2020, đến nay đã thấp hơn đáng kể (Biểu đồ 2); ii) Xét theo tương quan P/B với ROE (Biểu đồ 3), và tương quan P/E với tăng trưởng CAGR EPS 3 năm gần nhất (Biểu đồ 4), TTCK Việt Nam đều đang ở vùng giá hấp dẫn hơn tương đối so với hầu hết các thị trường Châu Á khác.

Vùng giá hợp lý chỉ số VNIndex thời điểm cuối năm quanh mức 1,480 điểm

Với cơ sở dự báo tình hình dịch Covid-19 sẽ sớm được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao (6%-6.5%), lạm phát không diễn biến đáng lo ngại, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp như hiện tại, tỷ giá diễn biến ổn định, cùng 1 số động lực khác như hoạt động thoái vốn cổ phần hoá nửa cuối năm được đẩy nhanh, hệ thống giao dịch được cải thiện, chúng tôi kỳ vọng mức P/E 2021 hợp lý của thị trường ở mức 18 lần. Kết hợp với dự phóng EPS 2021 bình quân các doanh nghiệp trên HSX tăng 13% so với mức hiện tại, vùng giá mục tiêu của chỉ số cuối năm 2021 là 1,480 điểm.

II. Hoạt động sản xuất kinh doanh

KQKD các doanh nghiệp niêm yết tăng trưởng mạnh trong quý 1

Với sự phục hồi của nền kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu (Biểu đồ 7) từ mức nền thấp cùng kỳ, kết hợp với mặt bằng lãi suất cho vay giảm (kéo theo chi phí lãi vay trên doanh thu ở hầu hết các ngành đồng loạt giảm– Biểu đồ 8), hầu hết các ngành đều ghi nhận mức tăng trưởng cao trong quý 1 về lợi nhuận (Biểu đồ 9). Thống kê trên sàn HSX, tổng lợi nhuận các doanh nghiệp trong quý 1 tăng trưởng 85% yoy, trong khi doanh thu tăng 13% yoy. Trong đó, các ngành dẫn dắt đà tăng trưởng về lợi nhuận là nguyên vật liệu (+190% yoy), tài chính (+93% yoy), bất động sản (+42% yoy).

Đà tăng trưởng sẽ tiếp tục được duy trì trong 3 quý cuối năm là động lực chính hỗ trợ TTCK tăng trưởng

Đà tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết được dự báo sẽ tiếp tục duy trì trong 3 quý cuối năm và tiếp tục được dẫn dắt bởi nhóm doanh nghiệp vốn hóa lớn với 3 giả định quan trọng: i) làn sóng Covid-19 hiện tại không vượt ngoài tầm kiểm soát; ii) hoạt động xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhờ hưởng lợi từ việc các nền kinh tế lớn mở cửa nền kinh tế; iii) mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp. Theo đó, chúng tôi dự phóng TTM EPS 2021 của VNIndex tăng 13% so với mức hiện tại (Biểu đồ 10), với tăng trưởng được dẫn dắt bởi các ngành nguyên vật liệu (+35%), tiện ích (+26%), hàng tiêu dùng không thiết yếu (+19.7%).

III. Xu hướng dòng tiền

Dòng tiền từ nhà đầu tư cá nhân trong nước được dự báo tiếp tục dồi dào

Sự hấp dẫn của TTCK trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động giảm mạnh, các kênh kinh doanh nhỏ khác gặp khó khăn khi các quy định cách ly xã hội được áp dụng, trong khi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết đạt tốc độ tăng trưởng cao là nguyên nhân thúc đẩy dòng vốn nhàn dỗi tham gia TTCK, thể hiện qua số tài khoản mở mới liên tục đạt mức cao kỷ lục (Biểu đồ 13). Với nhận định mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp trên cơ sở lạm phát trong tầm kiểm soát (xem thềm phần IV.2 của báo cáo), dòng tiền từ nhà đầu tư cá nhân trong nước chảy vào TTCK sẽ tiếp tục dồi dào trong nửa sau 2021.

Áp lực bán ròng của khối ngoại sẽ duy trì trong nửa sau năm 2021

Khối ngoại đẩy mạnh bán ròng từ đầu năm (Biểu đồ 11), tương đồng với xu hướng bán ròng ở hầu hết các thị trường mới nổi trong khu vực (Biểu đồ 14), và được dự báo sẽ tiếp tục duy trì áp lực bán trong nửa cuối năm trong bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang có xu hướng dịch chuyển sang các thị trường phát triển, hưởng lợi từ quá trình tái mở cửa nền kinh tế khi chương trình tiêm chủng vaccine được triển khai hiệu quả, trái ngược với bối cảnh dịch bùng phát ở nhiều nước đang phát triển (bao gồm cả Việt Nam). Ngoài ra, các sự cố hạ tầng kỹ thuật của sàn HSX, hay rủi ro FED phát đi tín hiệu đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất cũng là nguyên nhân cản trở các quỹ ngoại gia nhập thị trường trong thời gian tới. Dù vậy, động thái bán ròng của khối ngoại hiện nay không có tác động đáng kể đến thị trường do dòng tiền từ nhà đầu tư trong nước chiếm ưu thế vượt trội.

IV. Các yếu tố tác động thị trường

1. Tăng trưởng kinh tế

Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu 2021 lạc quan hơn nhờ quá trình tiêm vaccine được triển khai hiệu quả

Biểu đồ 15 cho thấy các tổ chức tài chính trên thế giới đều đã đồng thuận nâng mạnh dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021 từ đầu năm đến nay (từ 5.2% lên 6%), với động lực đến từ sự phục hồi mạnh mẽ ở 2 nền kinh tế lớn là Mỹ (dự báo tăng từ 3.9% lên 6.6%), và Trung Quốc (dự báo tăng từ 8.2% lên 8.5%) nhờ quá trình tái khởi động nền kinh tế đang diễn ra khi quá trình tiêm chủng vaccine được triển khai hiệu quả. Song song với đó, các gói kích thích tài khoá (đặc biệt ở Mỹ) và chính sách tiền tệ nới lỏng được duy trì tiếp tục đóng vai trò quan trọng thúc đẩy chi tiêu, tiêu dùng và đầu tư trong bối cảnh nhu cầu trước đó bị kìm nén trong thời gian dài do đại dịch.

Việt Nam được dự báo duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2021 bất chấp tác động từ đợt dịch Covid-19 hiện tại

Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi Đông Nam Á (Biểu đồ 16) đều bị các tổ chức đồng thuận hạ triển vọng tăng trưởng kinh tế 2021 khi làn sóng Covid-19 mới đây bùng phát. Dù bị hạ từ mức dự báo 7.6% xuống 6.7%, Việt Nam vẫn là điểm sáng trong khu vực khi làn sóng Covid-19 vẫn đang được kiểm soát, nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu hưởng lợi từ quá trình mở cửa của các nền kinh tế lớn (Biểu đồ 18), chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng, cùng với xu hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.

KBSV đang đánh giá lại dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam 2021 (từ mức 6.5% cuối quý 1) và sẽ công bố trong báo cáo “Triển vọng KTVM 2H 2021”.

2. Diễn biến lạm phát và tỷ giá trong nước

Lạm phát và tỷ giá là 2 yếu tố có tầm ảnh hưởng đến biến động chỉ số VNIndex.

Một mức lạm phát thấp là điều kiện thuận lợi NHNN áp dụng các chính sách tiền tệ mở rộng, hạ lãi suất, nới tăng trưởng tín dụng và trong bối cảnh đó TTCK cũng được hưởng lợi (Biểu đồ 19). Trong khi đó, đối với vấn đề tỷ giá, quan sát tương quan đường REER (tỷ giá hữu hiệu thực của VNĐ- Biểu đồ 20) với P/E chỉ số VNIndex cho thấy chỉ số này thường tăng mạnh trong các giai đoạn REER sụt giảm (tương đồng với việc VND giảm giá so với rổ tiền tệ các đối tác thương mại) do: i) đồng VND yếu có lợi cho nền kinh tế Việt Nam vốn dựa nhiều vào xuất khẩu; và ii) do VND neo theo USD nên các giai đoạn REER giảm cũng tương đồng với giá trị đồng USD suy yếu, phản ánh các rủi ro ngoại biên hạ nhiệt, chính sách tiền tệ nới lỏng ở Mỹ được duy trì, NHNN sẽ có nhiều dư địa để nới lỏng chính sách hơn mà không quá lo ngại về áp lực tỷ giá.

Trong khi lạm phát chưa có nhiều dấu hiệu rủi ro, tỷ giá là yếu tố cần được theo dõi khi đồng USD có thể xuất hiện nhiều biến động dưới ảnh hưởng của FED

Dù có những áp lực nhất định khi giá hàng hoá nguyên vật liệu tăng mạnh do nguồn cung chưa theo kịp nhu cầu khi các nền kinh tế lớn phục hồi sau đại dịch (Biểu đồ 21), biến động lạm phát 5 tháng đầu năm vẫn tương đối ổn định nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng thận trọng (cung tiền M2 và tín dụng không tăng đột biến), kết hợp với làn sóng Covid-19 lần thứ 4 khiến nhu cầu chi tiêu tiêu dùng suy giảm. Nhìn chung, rủi ro lạm phát tăng vượt mức mục tiêu 4% của Chính phủ được đánh giá là ít có khả năng xảy ra trong năm nay.

Đối với vấn đề tỷ giá, diễn biên suy yếu của đồng USD trên thị trường quốc tế là yếu tố hỗ trợ REER đi xuống và P/E thị trường đi lên trong quý 2, tuy nhiên rủi ro đảo chiều là hiện hữu (xem thêm phần sau).

3. Lạm phát và chính sách tiền tệ của Mỹ

Lạm phát tăng mạnh khiến rủi ro FED thay đổi chính sách tiền tệ là hiện hữu

Lạm phát tại Mỹ đã tăng mạnh trong 2-3 tháng trở lại đây (Biểu đồ 23), trong bối cảnh nhu cầu chi tiêu phục hồi mạnh, nguồn cung bị đứt gãy gián đoạn, chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của FED (lãi suất Fed-fund-rate duy trì ở mức 0- 0.25%, FED mua vào chứng khoán trị giá 120 tỷ USD mỗi tháng), và chính sách tài khoá chi tiêu chính phủ tăng mạnh (Biểu đồ 24 – Thâm hụt ngân sách tại Mỹ/GDP).

Diễn biến trên khiến thị trường gia tăng lo ngại FED có thể phải sớm thay đổi chính sách tiền tệ hiện tại, thu hẹp tốc độ mở rộng bảng cân đối và dần tăng lãi suất. Động thái này chắc chắn sẽ khiến TTCK Mỹ chao đảo do đà tăng của thị trường được hẫu thuận chính bởi nguồn tiền rẻ từ chính sách tiền tệ nới lỏng của FED từ khi dịch Covid-19 bùng phát, và nhìn rộng ra là kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 (FED chưa bao giờ thành công trong nỗ lực bình thường hoá chính sách tiền tệ, ngay cả khi các gói QE kết thúc và lãi suất Fed Fund Rate dần được tăng lên giai đoạn 2015-2019).

Các thị trường tài chính mới nổi, bao gồm cả TTCK Việt Nam nhìn chung đã được hưởng lợi từ xu hướng suy yếu của đồng USD trong quý 2 trong bối cảnh thâm hụt kép tại Mỹ ngày càng trầm trọng (Biểu đồ 24) – là yếu tố được đánh giá hỗ trợ đồng USD suy yếu trong dài hạn. Dù vậy, xu hướng trên có nguy cơ đảo chiều trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ khởi sắc trở lại sau đại dịch, lạm phát tăng mạnh và nguy cơ FED phát đi tín hiệu đẩy nhanh việc tăng lãi suất, giảm dần quy mô chương trình mua vào tài sản – các yếu tố khiến đồng USD tăng giá.

Các quan chức FED đã có nhiều hơn quan điểm về việc tăng lãi suất trong năm 2022

Trong cuộc họp chính sách tháng 6 vừa qua, FED duy trì quan điểm lạm phát hiện nay chỉ mang tính thời điểm (transitory) và sẽ sớm hạ nhiệt khi nguồn cung, vốn bị đứt gẫy gián đoạn do dịch, sẽ dần phục hồi để cân bằng với nhu cầu, vốn đã nhanh chóng tăng vọt do bị kìm nén trước đó (nhu cầu được dự báo cũng sẽ giảm dần khi tác động từ các gói hỗ trợ của Chính phủ dần phai nhạt, trong khi các nhu cầu dồn nén được giải toả). Dù vậy, biểu đồ dot plot (Biểu đồ 27) đã cho thấy đã có nhiều hơn quan điểm trong nội bộ Ủy ban thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) về việc đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất vào năm 2022. Khảo sát của Bloomberg News (Biểu đồ 28) cũng cho thấy 78% các nhà kinh tế cho rằng FED sẽ chính thức thảo luận về việc giảm chương trình mua vào tài sản hàng tháng ở 1 trong các cuộc họp diễn ra 6 tháng cuối năm.

Trong kịch bản lạm phát không hạ nhiệt trong các tháng tới, nhiều khả năng các tín hiệu nâng lãi suất, thu hẹp chương trình mua vào tài sản hàng tháng từ các quan chức FOMC sẽ ngày càng rõ rệt hơn. Đây là yếu tố cần theo dõi chặt chẽ bởi có các tác động mạnh đến TTCK Việt Nam theo chiều hướng tiêu cực. Một đồng USD tăng mạnh là môi trường không hề thuận lợi cho các TTCK mới nổi, bao gồm cả Việt Nam – như đã được quan sát thấy trong quá khứ.

Nguồn: KBSV

×
tvi logo