TNH: Định vị thị trường hợp lý và hoạt động hiệu quả trong điều kiện ngành chăm sóc sức khỏe Việt Nam đang phát triển nhanh

TNH: Định vị thị trường hợp lý và hoạt động hiệu quả trong điều kiện ngành chăm sóc sức khỏe Việt Nam đang phát triển nhanh

Lượt xem: 29
  •  

Luận điểm đầu tư:

Chúng tôi đưa ra khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu TNH, với giá mục tiêu 1 năm là 51.800 đồng/cổ phiếu, tương đương với tổng mức sinh lời là 26% so với giá đóng cửa ngày 10/9/2021. TNH hiện sở hữu những lợi thế: (1) vị trí hoạt động thuận lợi, bệnh viện có suất đầu tư ban đầu thấp và các chi phí hoạt động được kiểm soát ở mức tốt, (2) tiếp tục mở rộng năng lực khám chữa bệnh sang các dịch vụ y tế chuyên khoa, (3) hưởng lợi từ mức tăng trưởng cao của thị trường chăm sóc sức khỏe Việt Nam trong các năm tới. TNH là một trong số ít bệnh viện niêm yết có mức sinh lời tốt và định giá còn tương đối rẻ, với mức P/E dự phóng thấp hơn 29% so với các công ty cùng ngành trong khu vực.

Chúng tôi ước tính doanh thu thuần của TNH đạt 407 tỷ đồng (+21% YoY) trong năm 2021 và 471 tỷ đồng (+16% YoY) trong năm 2022. Lợi nhuận sau thuế (LNST) ước tính đạt 112 tỷ đồng (+3% YoY) trong năm 2021 và 121 tỷ đồng (+9% YoY) trong năm 2022. Trong 5 năm tiếp theo, chúng tôi ước tính CAGR doanh thu thuần và LNST của TNH lần lượt đạt 22% và 26%. Ước tính này đã dựa trên tác động của dịch Covid-19 ở thời điểm hiện tại và ảnh hưởng của các chính sách giãn cách xã hội đến số lượt khám chữa bệnh tại bệnh viện, đồng thời cũng tính tới kịch bản mở cửa nền kinh tế trong năm 2022 và kế hoạch mở rộng thêm các bệnh viện mới của TNH trong các năm tới.

1. Thông tin doanh nghiệp

Lịch sử hình thành: Bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên (TNH) là một bệnh viện tư nhân tại tỉnh Thái Nguyên, được thành lập vào năm 2013. Ban đầu TNH chỉ có một bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, với 150 giường bệnh và 950 dịch vụ y tế. Sau đó, TNH đã mở rộng lên 2 cơ sở bệnh viện, với tổng 600 giường bệnh và 1300 dịch vụ y tế trong năm 2021. TNH hiện đang hướng tới các dịch vụ y tế chuyên khoa về phụ sản (chăm sóc thai phụ), nhãn khoa (chẩn đoán/điều trị mắt) và phẫu thuật/thủ thuật, đồng thời mở rộng hoạt động sang các tỉnh lân cận.

Cơ cấu cổ đông: Sau nhiều đợt phát hành cổ phiếu, cơ cấu cổ đông của công ty hiện tương đối phân mảnh, trong đó ban lãnh đạo sở hữu 36% cổ phần, phần còn lại là do các nhà đầu tư nhỏ lẻ và nhân viên bệnh viện nắm giữ. Cổ đông lớn nhất của công ty là Ông Hoàng Tuyên - Chủ tịch HĐQT (12%), Ông Nguyễn Văn Thủy - Phó Giám đốc (6%), Ông Lê Xuân Tân - Giám đốc (7%), Ông Vũ Hồng Minh – thành viên HĐQT (4%) và ông Nguyễn Xuân Đôn – thành viên HĐQT (10%).

a. Mô hình kinh doanh

Hiện tại, phần lớn thu nhập của công ty đến từ cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại hai bệnh viện: (1) Bệnh viện Thái Nguyên tại phố Lương Ngọc Quyến (thuộc trung tâm tỉnh Thái Nguyên) và (2) Bệnh viện Yên Bình tại thị trấn Phổ Yên (gần khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên nơi tập trung đông công nhân lao động). TNH hiện đang tiếp nhận khoảng 600 - 800 lượt khám chữa bệnh mỗi ngày và có thể tiếp nhận lên đến 1000 - 1200 lượt khám mỗi ngày. Tổng chi phí hoạt động của bệnh viện chiếm khoảng ~ 70% doanh thu, và trong đó 65% chi phí hoạt động là các chi phí cố định (chủ yếu là tiền lương của y tá, bác sĩ và khấu hao). Theo tiêu chí xếp hạng bệnh viện của Bộ Y tế, TNH có thể được xếp hạng tương đương bệnh viện tuyến tỉnh, tuy nhiên ban lãnh đạo TNH quyết định chỉ đăng ký xếp hạng bệnh viện tương đương tuyến huyện để được hưởng mức chi trả lớn hơn từ chương trình BHYT theo quy định hiện hành (sẽ được đề cập trong phần phân tích ngành).

b. Thành viên HĐQT và Ban lãnh đạo

2. Quan điểm ngành

a. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng

Trong vòng 10 năm trở lại đây, tổng chi tiêu y tế trên đầu người của Việt Nam đang tăng lên đáng kể, với mức bình quân khoảng 11%/năm theo thống kê của Bộ Y tế. Điều này được thúc đẩy bởi 3 yếu tố chính: (1) dân số Việt Nam đang già hóa nhanh, kèm theo các vấn đề sức khỏe gia tăng do tác động của ô nhiễm môi trường, (2) thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng cao và nhận thức tốt hơn của người dân về các vấn đề sức khỏe, (3) nguồn tài chính dồi dào hơn cho ngành y tế & cơ sở hạ tầng y tế được cải thiện.

• Dân số trong tình trạng già hóa nhanh và ô nhiễm môi trường gia tăng thúc đẩy nhu cầu về các dịch vụ y tế: Theo Tổng cục Thống kê (GSO) và Liên hợp quốc (LHQ), dân số già (trên 60 tuổi) của Việt Nam năm 2014 đã đạt trên 10% tổng dân số. Kể từ đó, cơ cấu dân số già của Việt Nam tiếp tục tăng nhanh hơn, đạt 12% tổng dân số (12 triệu người) trong năm 2021 và dự báo sẽ đạt 21% (22 triệu người) trong năm 2029, cao gấp đôi so với mức hiện tại theo một báo cáo gần đây của LHQ. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường đang trở thành một vấn đề lớn ở Việt Nam, với chỉ số chất lượng không khí dao động ở mức có hại ở nhiều thành phố lớn. Điều này đã dẫn đến các trường hợp mắc các bệnh liên quan, chẳng hạn như bệnh hô hấp, ung thư và suy giảm hệ thống miễn dịch, lọt vào nhóm 10 nguyên nhân gây bệnh hàng đầu trong các năm gần đây theo Niên giám thống kê Y tế năm 2019. Với các yếu tố dân số già hóa nhanh và vấn đề ô nhiễm gia tăng, Việt Nam sẽ cần đến nhiều nhân viên y tế và các dịch vụ KCB trong những năm tới.

• Thu nhập bình quân đầu người tăng lên và nhận thức về sức khỏe được nâng cao: Theo mục tiêu của chính phủ, GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước tính đạt 7.500 USD/năm trong năm 2030, với tốc độ CAGR là 8%/năm theo Kế hoạch kinh tế - xã hội trong các năm tới. So với các nước có GDP bình quân đầu người tương đương, ước tính chi tiêu y tế bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 305 USD/năm trong năm 2030, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 8%/năm. Cùng với chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao, người dân cũng bắt đầu quan tâm nhiều đến những dịch vụ khám sức khỏe theo yêu cầu như xét nghiệm máu, chẩn đoán bệnh nền, tư vấn chế độ ăn uống,... Số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy, số lượt đến bệnh viện KCB trung bình của mỗi người dân Việt Nam đã tăng từ 1,89 lượt/năm trong năm 2010 lên 2,95 lượt/năm trong năm 2020, đồng nghĩa với việc người dân ngày càng nâng cao nhận thức về sức khỏe và đến bệnh viện thường xuyên hơn. Cũng cần lưu ý rằng con số này vẫn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan (3,5 lượt/năm), Trung Quốc (4,9 lượt/năm) và một số nước cao đáng kể như Nhật Bản (12,2 lượt/năm). Do đó, sẽ còn rất nhiều dư địa cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong một nền kinh tế đang bùng nổ.

• Nguồn tài chính cho ngành y tế dồi dào hơn từ việc gia tăng độ phủ BHYT, đồng thời cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh được cải thiện rõ rệt: Hiện đã có trên 90% dân số Việt Nam tham gia BHYT của chính phủ (BHYT công). Như vậy, tỷ trọng chi tiêu do ngân sách nhà nước tài trợ trên tổng chi tiêu y tế cả nước đã tăng lên 55% trong năm 2020 từ mức 26% trong năm 2010. Đồng thời, cơ sở hạ tầng y tế của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể, với số lượng bác sĩ và giường bệnh ngày càng tăng nhanh trong những năm gần đây và vượt nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á.

b. Các quy định mới trong ngành đang thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh hơn giữa bệnh viện công và bệnh viện tư

Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy lĩnh vực chăm sóc sức khỏe phát triển theo hướng cạnh tranh lành mạnh hơn, giảm các khoản hỗ trợ cho các bệnh viện công và nới lỏng các quy định trong ngành để các bệnh viện tư nhân có thể cạnh tranh sòng phẳng. Từ năm 2010 đến năm 2020, nhiều quy định quan trọng đã được đưa ra để cải cách ngành y tế:

c. Các bệnh viện tư nhân dần trở nên quan trọng trong việc cải thiện chất lượng hạ tầng y tế

Trong giai đoạn 10 năm gần đây (2010 - 2020), các bệnh viện tư nhân ở Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng với cơ sở vật chất tốt hơn, dịch vụ KCB đa dạng và đáng tin cậy. Người dân bắt đầu đặt niềm tin vào bệnh viện tư nhân, và các tên tuổi lớn đã được khẳng định tại Việt Nam như Vinmec, Bệnh viện FV, Hoàn Mỹ, Tâm Anh, Medlatec. Ngoài ra, với thu nhập ngày càng tăng, người dân có xu hướng tìm kiếm nhiều dịch vụ cao cấp hơn bên cạnh các dịch vụ KCB thông thường như chăm sóc hậu phẫu, chăm sóc với điều dưỡng 24/7 và phòng bệnh riêng... Điều này thúc đẩy các mô hình bệnh viện khách sạn và các dịch vụ VIP có giá gấp đôi hoặc gấp ba lần bình thường, giúp cho bệnh viện tư nhân có lợi thế cạnh tranh rõ rệt so với các bệnh viện công. Tiềm năng cho thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân cũng rất đáng kể do khu vực tư nhân ở Việt Nam mới chỉ đóng góp phần nhỏ vào tổng cơ sở hạ tầng y tế. Ở các nước láng giềng, khu vực tư nhân chiếm 20% - 40% số giường bệnh, trong khi ở Việt Nam con số này chỉ là dưới 13%.

3. Luận điểm đầu tư

a. Vị trí bệnh viện thuận lợi với nhu cầu khám chữa bệnh ổn định và chịu áp lực cạnh tranh thấp

TNH có 2 cơ sở bệnh viện tại tỉnh Thái Nguyên, thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam. Đây là một vị trí chiến lược, vì những lý do sau:

(1)Đây là một thị trường có ít đối thủ cạnh tranh hơn. Khu vực Đông Bắc Bộ chỉ có 10 - 15 bệnh viện tư nhân lớn đang hoạt động, còn lại là các bệnh viện công và phòng khám tư nhân nhỏ lẻ. Như vậy, TNH có thể tránh được sự cạnh tranh trực tiếp với các bệnh viện tư nhân nổi tiếng như Vinmec, Medlatec, Thu Cúc hoặc các bệnh viện công lập lớn như Bệnh viện Bạch Mai, 108, Hữu Nghị ở những khu vực có sự cạnh tranh cao như Đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, do có ít các bệnh viện tư nhân cạnh tranh ở khu vực Đông Bắc Độ, số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế trở nên dồi dào hơn, với mức lương trung bình sẽ thấp hơn từ 15 - 20% so với các thành phố lớn.

(2)Nhu cầu cao về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Thái Nguyên được xếp hạng là tỉnh có dân số đông thứ 8 ở miền Bắc. Số lượt khám bệnh hàng năm tại Thái Nguyên cũng đứng thứ 5 trong khu vực, với tỷ lệ lấp đầy giường bệnh trung bình trong khu vực là 81% theo Niên giám thống kê y tế Việt Nam năm 2019.

(3) Thái Nguyên có vị trí không quá xa và đi lại thuận tiện hơn đối với những người dân ở các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc khác như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng & Hà Giang. Hiện nay, 35% số bệnh nhân tại các bệnh viện của TNH đến từ các tỉnh ngoài Thái Nguyên. Với cơ sở hạ tầng y tế của Thái Nguyên ngày càng phát triển, người dân có thể chọn chuyển hướng đến Thái Nguyên như một địa điểm điều trị y tế thường xuyên, thay cho việc phải di chuyển dài ngày tới Hà Nội.

Sở hữu vị trí chiến lược đối với từng bệnh viện: Hiện tại, cơ sở Thái Nguyên (bệnh viện chính) đặt ở trung tâm tỉnh Thái Nguyên, gần bệnh viện công lớn thuộc tuyến trung ương là Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (TWTN). Trong khi đó, cơ sở Yên Bình ở thị xã Phổ Yên nằm gần 3 khu công nghiệp lớn là Yên Bình, Phổ Yên và Điềm Thụy. Điều này mang lại những lợi thế khác nhau cho các bệnh viện của TNH:

(1) Giảm gánh nặng cho các ca điều trị chuyên khoa phức tạp và tốn kém: Mặc dù nằm gần bệnh viện tuyến trung ương và cả 2 bệnh viện đều cạnh tranh với các dịch vụ như nhau, TNH vẫn thu được lợi ích khi có sự hiện diện của TWTN trên địa bàn. Thứ nhất, TWTN là bệnh viện cấp trung ương, có nhiều kinh nghiệm và uy tín hơn trong điều trị chuyên khoa (phẫu thuật, chăm sóc bệnh nhân cấp tính, bệnh mãn tính & các phẫu thuật phức tạp khác). Do đó, những bệnh nhân cần chăm sóc đặc biệt thông thường sẽ chọn đến trực tiếp TWTN để điều trị, trong khi những bệnh nhân có tình trạng nhẹ hơn sẽ chọn TNH để nhận được khám dịch vụ nhanh hơn. Với gánh nặng điều trị những bệnh nhân nặng và nằm viện dài ngày được chia sẻ với TWTN, TNH sẽ tiết kiệm được đáng kể các khoản chi phí. Như theo nghiên cứu gần đây của Sanofi và KPMG, 40% chi phí hoạt động của bệnh viện và 35% nguồn lực (bác sĩ, giường bệnh) sẽ thường tập trung cho các bệnh nhân nặng và nằm viện dài ngày. Thứ hai, bệnh viện tuyến quốc gia như TWTN cũng thu hút thêm nhiều bệnh nhân từ các tỉnh khác do cả nước chỉ có 38 bệnh viện tuyến quốc gia, do đó, tăng sức hấp dẫn của các dịch vụ y tế Thái Nguyên, gián tiếp mang lại lợi ích cho TNH. Tuy nhiên, về lâu dài, có thể có rủi ro là TWTN có thể mở rộng thêm công suất giường bệnh, gây ra áp lực cạnh tranh cho các bệnh viện lân cận.

(2) Nhu cầu KCB ổn định từ các khu công nghiệp: Cơ sở còn lại là Bệnh viện Yên Bình, nằm gần 3 khu công nghiệp lớn của Thái Nguyên, nơi tập trung các doanh nghiệp có số lượng lớn lao động như Samsung Electronics. Theo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, 3 khu công nghiệp này có khoảng 70.000 lao động, và với mức bình quân 2,2 lượt KCB/người/năm tại Thái Nguyên, nhu cầu KCB từ lao động tại các khu công nghiệp này sẽ đạt khoảng 160.000 lượt khám/năm và đáp ứng gần 89% công suất hiện tại của Bệnh viện Yên Bình. Vị trí của cơ sở Yên Bình cũng rất thuận lợi, chỉ cách các khu công nghiệp này khoảng 5km, trong khi các bệnh viện khác gần nhất cũng phải mất khoảng 23 km để lái xe về trung tâm thành phố.

b. Lợi thế cạnh tranh mạnh từ suất đầu tư ban đầu thấp và giá viện phí rẻ hơn so với mặt bằng chung

Để hiểu và đánh giá chính xác khả năng cạnh tranh của TNH trong ngành, chúng ta cần tìm và so sánh với các bệnh viện tương đương hoặc đồng hạng. Việc xếp hạng các bệnh viện của Việt Nam vẫn còn tương đối phức tạp và đang trong quá trình hoàn thiện thêm. Nhưng theo quy định hiện hành của chính phủ và tiêu chí của Bộ Y tế về việc xếp hạng các bệnh viện, các bệnh viện sẽ được chia làm 3 thứ hạng chính để so sánh như sau:

Với tiêu chí hiện tại của Bộ Y tế, TNH sẽ được xếp hạng là bệnh viện tư nhân Cấp II, tương đương với bệnh viện công tuyến tỉnh, với một số bệnh viện đồng hạng tương tự như Bệnh viện Thái Nguyên A (Thái Nguyên), Bệnh viện Quốc tế Hà Nội - Bắc Giang (Bắc Giang), Bệnh viện Quốc tế Green (Hải Phòng), Bệnh viện Phương Đông (Hà Nội), Bệnh viện Triều An (TP.HCM), Bệnh viện Tim Tâm Đức (TP.HCM). Sau khi so với các bệnh viện đồng hạng, lợi thế cạnh tranh đầu tiên mà chúng tôi nhận thấy được là suất đầu tư bệnh viện ban đầu của TNH tương đối ấn tượng cho cả 2 cơ sở Thái Nguyên và Yên Bình, với chi phí đầu tư trên một giường bệnh thấp hơn 18% so với các bệnh viện công tuyến tỉnh và thấp hơn 31% so với bệnh viện tư nhân Cấp II. Chúng tôi cho rằng đây có thể là kết quả từ kinh nghiệm của ban lãnh đạo TNH trong quá trình quản lý nhiều bệnh viện khác nhau và mối quan hệ với các đơn vị cung cấp thiết bị y tế, góp phần quan trọng vào các yếu tố như lựa chọn thiết bị/máy móc chuyên dụng hay thiết kế bố trị bệnh viện, không đầu tư quá mức vào các thiết bị y tế đắt tiền trong khi vẫn duy trì một tiêu chuẩn tối thiểu để hoạt động. Đồng thời, nhờ các lợi thế về kiểm soát tốt chi phí hoạt động, TNH đang duy trì mức giá viện phí tương đối cạnh tranh, chỉ cao hơn bệnh viện công tuyến tỉnh khoảng 25 - 30%, trong khi thấp hơn bệnh viện tư nhân Cấp II khoảng 15 - 20%. Ngoài ra, vì TNH hiện đang đăng ký là bệnh viện tuyến huyện nên bệnh nhân sẽ được quỹ BHYT công lập chi trả 100% viện phí (tính theo giá bệnh viện công), điều này có nghĩa là bệnh nhân chỉ cần trả một mức viện phí khoảng 25 – 30% giá khám chữa bệnh, thấp hơn nhiều so với các bệnh viện tư đồng hạng khác.

Nguồn: SSI

 

×
tvi logo