TDM: Nhu cầu tiêu thụ nước tích cực trở lại trong tháng 3/2020

TDM: Nhu cầu tiêu thụ nước tích cực trở lại trong tháng 3/2020

Lượt xem: 291
  •  

TDM đã công bố kết quả kinh doanh Q1/2020, doanh thu thuần đạt 82,8 tỷ đồng (+10,1% YoY) và lợi nhuận sau thuế đạt 30,5 tỷ đồng (-14% YoY). Cụ thể như sau:

  • Sản lượng tiêu thụ tăng 5% trong Q1/2020. Mặc dù 2 tháng đầu năm sản lượng tiêu thụ sụt giảm hơn 10% do ảnh hưởng Covid 19 làm sản lượng tiêu thụ nước khu công nghiệp (chiếm 80% tổng sản lượng tiêu thụ nước khu vực Dĩ An), tuy nhiên lượng nước tiêu thụ đã có sự phục hồi trở lại vào tháng 3/2020. Tổng sản lượng tiêu thụ đạt 12,6 triệu m3 (+5% YoY) trong Q1/2020. Trong đó, sản lượng tiêu thụ tại nhà máy nước Dĩ An đạt 10,88 triệu m3 và nhà máy nước Bàu Bàng đạt 1,47 triệu m3.
  • Giá bán nước tăng 5% trong Q1/2020. Theo Quyết định số 04/2018/QĐ-UBND Bình Dương giá bán nước tăng trung bình 5%/ năm trong giai đoạn 2018-2022. Do đó, giá bán nước sỉ của TDM cho BWE cũng tăng tương ứng 5% YoY trong Q1/2020 đạt trung bình 6.321 đồng/m3.
  • Biên lợi nhuận gộp giảm từ mức 65,2% trong Q1/2019 về mức 48,2% trong Q1/2020. Chi phí khấu hao (chiếm 48% tổng chi phí sản xuất) của TDM tăng mạnh 108% YoY lên mức 25 tỷ đồng trong Q1/2020, do TDM thay đổi thời gian khấu hao từ Q/2019 theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2019, cụ thể thời gian khấu hao trung bình điều chỉnh từ mức 15 năm về mức 10 năm đối với máy móc thiết bị và khấu hao nhà xưởng từ mức 8 năm về mức 6 năm. Đồng thời, chi phí điện sản xuất (chiếm 17% tổng chi phí) tăng 15% YoY.
  • Chi phí lãi vay giảm. Vay ngắn hạn giảm 32 tỷ đồng về mức 119 tỷ đồng trong Q1/2020, giúp chi phí lãi vay TDM trong Q1/2020 giảm 21,9% YoY.
  • Nhà máy nước Dĩ An mở rộng chưa đi vào hoạt động thương mại. Nhà máy nước Dĩ An mở rộng với công suất tăng thêm 100.000 m3/ ngày đêm nâng tổng công suất lên 200.000 m3/ ngày đêm, chưa đưa vào vận hành thương mại trong Q1/2020. Trong đó, giá trị đầu tư đến thời điểm Q1/2020 đạt 271 tỷ đồng.

Dự báo năm 2020

Chúng tôi ước tính sản lượng tiêu thụ TDM trong năm 2020 đạt 65 triệu m3 nước (+11,3% YoY), trong đó nhà máy Dĩ An đạt 55 triệu m3 (+11,5% YoY) và nhà máy nước Bàu Bàng đạt 9,8 triệu m3 (+10% YoY). Giá bán nước tăng trung bình 5% trong năm. Doanh thu thuần trong năm 2020 dự kiến đạt 406 tỷ đồng (+17% YoY). Biên lợi nhuận gộp trong năm 2020 đạt 48,6% do tăng chi phí khấu hao từ nhà máy Dĩ An mở rộng và thay đổi thời gian khấu hao nhanh. Thu nhập tài chính từ cổ tức BWE với tỷ lệ 2020 là 12% (tăng 2% so với năm 2019) và DNW với tỷ lệ 8% (giữ nguyên so với năm 2019). Tỷ lệ chi phí quản lý/ doanh thu thuần duy trì ở mức 3,5%. Lợi nhuận sau thuế năm dự báo đạt 226 tỷ đồng (+11% YoY) không thay đổi so với dự báo trong báo cáo cập nhật ĐHCĐ.

Quan điểm đầu tư

Chúng tôi đánh giá tích cực về sự hồi phục sản lượng tiêu thụ nước của TDM từ tháng 3/2020, làm giảm nỗi lo dịch bệnh ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ nước tại các khu công nghiệp tại Dĩ An và Bàu Bàng. Tuy nhiên, sản lượng tiêu thụ trong tháng 4 có thể giảm trở lại do thời gian thực hiện giãn cách xã hội. TDM cũng là 1 trong những doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động cao hơn so với trung bình ngành nhờ tỷ lệ thất thoát nước thấp nhất trong cả nước đạt 0,1%, cùng hoạt động đầu tư hoàn thiện chuỗi giá trị ngành nước tại 2 công ty cấp nước là BWE và DNW giúp ổn định nguồn nước thô đầu vào. Tuy nhiên, thời gian vận hành thương mại nhà máy nước Dĩ An mở rộng có thể chậm hơn so với dự kiến từ 1-2 tháng do nhu cầu những tháng đầu năm tăng chậm.

TDM hiện đang giao dịch ở mức P/E 8,2x – thấp hơn so với mức trung bình ngành 9,5x. Chúng tôi giữ nguyên khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu TDM với mức giá mục tiêu được điều chỉnh về mức 28.146 đồng/CP so với mức giá 31.200 đồng trong báo cáo trước đó dựa trên phương pháp P/E và DCF do các yếu tố thị trường thay đổi. Các giả định của chúng tôi như sau: (1) Tăng trưởng sản lượng tiêu thụ tại nhà máy Dĩ An tăng trưởng 10% trong 2020 do ảnh hưởng dịch bệnh những tháng đầu năm có thể ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ tại các KCN, sang năm 2021, sản lượng tăng trưởng trở lại ở mức 15%; (2) Tăng trưởng nhà máy Bàu Bàng duy trì mức 10% năm trong năm 2021; (3) Chi phí khấu hao tăng thêm 19 tỷ trong năm 2020 và 36 tỷ trong năm 2021 từ nhà máy Dĩ An mở rộng; (4) Khoản vay 166 tỷ từ Quỹ đầu tư phát triển Bình Dương cuối năm 2019, sẽ bắt đầu trả lãi vào năm 2021; (5) Chi phí vốn là 9,9%; (4) Tốc độ tăng trưởng trong dài hạn là 1%.

Bảng tổng hợp kết quả định giá

Phương pháp

Tỷ trọng

Giá mục tiêu

DCF

50%

33,806

P/E

50%

22,486

Giá trung bình

 

28,146

Giá hiện tại

 

19,500

% tăng/giảm so với giá hiện tại

 

44%

Trong trường hợp xấu (worst case), chúng tôi cho rằng các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (chiếm 80% tiêu thụ nước khu vực Dĩ An) sẽ giảm nhu cầu sử dụng nước, đặc biệt các doanh nghiệp Châu Âu và Mỹ khi dịch bệnh kéo dài và xuất khẩu hàng hóa giảm. Dự báo sản lượng tiêu thụ tại nhà máy nước Dĩ An chỉ tăng trưởng nhẹ 3% và nhà máy nước Bàu Bàng tăng trưởng 5% trong năm 2020. Đồng thời, nhà máy nước Dĩ An mở rộng sẽ đi vào vận hành thương mại chậm hơn so với dự kiến 3 tháng vào Q4/2020. Dự báo doanh thu TDM trong năm 2020 đạt 376 tỷ đồng (+9% YoY) và LNST đạt 211 tỷ đồng (+4% YoY). Đến năm 2021, nhu cầu phục hồi trở lại với mức tăng trưởng sản lượng tại nhà máy Dĩ An đạt 15% và nhà máy Bàu Bàng đạt 10%. Kết quả định giá trong trường hợp xấu (worst case) là 25.900 đồng/CP với các giả định chi phí vốn 9,9% và tốc độ tăng trưởng dài hạn 1% được giữ nguyên.

Bảng kết quả định giá trong trường hợp xấu (worst case)

Phương pháp

Tỷ trọng

Giá mục tiêu

DCF

                       50%

             30,760

P/E

                       50%

             21,053

Giá trung bình

 

             25,906

Giá hiện tại

 

             19,500

% tăng/giảm so với giá hiện tại

 

33%

Rủi ro: (1) Chuyển nhượng nội bộ có thể ảnh hưởng đến quản trị điều hành tại TDM; (2) Áp lực trả nợ vay dài hạn; (3) Thanh khoản cổ phiếu ở mức thấp; (4) Hiệu quả đầu tư mở rộng nhà máy Bàu Bàng thêm 100.000 m3/ ngày đêm.

(Nguồn: SSI)

×
tvi logo