TCB: Tín dụng chuyển hướng sang các doanh nghiệp lớn, trong khi đóng góp của mảng bán lẻ trong thu nhập phí ngày càng tăng

TCB: Tín dụng chuyển hướng sang các doanh nghiệp lớn, trong khi đóng góp của mảng bán lẻ trong thu nhập phí ngày càng tăng

Lượt xem: 22
  •  

Tóm tắt quan điểm đầu tư

• TCB công bố kết quả kinh doanh Q1/2021 cao, với tổng thu nhập hoạt động (TOI) và lợi nhuận trước thuế (LNTT) lần lượt đạt 8,9 nghìn tỷ đồng (+46,2% so với cùng kỳ) và 5,5 nghìn tỷ đồng (+76,8% so với cùng kỳ). LNTT hoàn thành 27,9% kế hoạch năm 2021F là 19,8 nghìn tỷ đồng.

• Tín dụng của TCB tăng trưởng mạnh, được hỗ trợ nhờ các doanh nghiệp lớn. Môi trường lãi suất thấp trong thời gian kéo dài đã hỗ trợ NIM, cũng như mảng dịch vụ ngân hàng đầu tư bán lẻ và bán bảo hiểm. Đồng thời, chiến lược số hóa giúp TCB cải thiện tỷ lệ CASA và chuyển mình sang mô hình ngân hàng giao dịch.

• Chúng tôi nâng ước tính LNTT +11,7% trong năm 2021F cho TCB lên 20,7 nghìn tỷ đồng (+31% so với cùng kỳ). Ước tính LNTT năm 2022 đạt 24,8 nghìn tỷ đồng (+20% so với cùng kỳ). Chúng tôi thực hiện định giá đến cuối tháng 6/2022 và sử dụng BVPS bình quân năm 2021 và 2022. Do đó, với hệ số P/B mục tiêu không đổi là 1,7x, chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm cho TCB là 48.500 đồng/cổ phiếu. Theo đó, chúng tôi duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với TCB, với tiềm năng tăng giá là 18,3%.

Nhóm doanh nghiệp lớn tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng: Cho vay khách hàng (bao gồm cả trái phiếu doanh nghiệp) tăng 6,2% so với đầu năm, cao gấp đôi so với mức trung bình ngành là +2,9% so với đầu năm. Điều này được thúc đẩy bởi cho vay doanh nghiệp lớn (+11,4% so với đầu năm), tiếp theo là cho vay bán lẻ (+3,6% so với đầu năm) và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (+3,4% so với đầu năm). Số dư trái phiếu doanh nghiệp tăng trưởng ở mức khiêm tốn (+3,1% so với đầu năm), so với mức cao trong Q1/2020. Điều này phù hợp với dự báo của chúng tôi là tín dụng của TCB với các doanh nghiệp lớn sẽ chuyển từ trái phiếu doanh nghiệp sang cho vay trong năm 2021, do tác động của Nghị định 81 và Nghị định 153 được ban hành vào năm 2020.

Cho vay ngành tài chính và dịch vụ công tăng mạnh nhất ở mức +30,6% so với đầu năm. Trong khi đó, cho vay ngành du lịch và giải trí, FMCG & bán lẻ, tiện ích & viễn thông tăng +8,9% so với đầu năm, và cho vay ReCoM tăng +7,3% so với đầu năm.

Cho vay chuỗi BĐS, xây dựng và vật liệu xây dựng, và cá nhân mua nhà (+5,1% so với đầu năm) hiện chiếm 71,9% tổng dư nợ và giảm nhẹ so với mức 73% trong năm 2020.

NIM cải thiện mạnh mẽ: NIM theo quý tiếp tục xu hướng tăng mạnh kể từ Q3/2020, tăng +119 bps so với cùng kỳ lên 5,85% do chi phí vốn giảm (-133 bps so với cùng kỳ xuống 2,24%) nhờ tỷ lệ CASA tăng mạnh (+68% so với cùng kỳ) cũng như từ việc giảm lãi suất huy động bình quân (giảm -200 bps đến -300 bps so với cùng kỳ ở tất cả các kỳ hạn).

Chúng tôi nhận thấy xu hướng tăng của lợi suất cho vay bình quân từ mảng bán lẻ (chiếm 33,4% tổng tín dụng) và bán buôn (chiếm 37% tổng tín dụng) trong bốn quý vừa qua, lần lượt tăng +113 bps và +169 bps so với cùng kỳ. Lợi suất trái phiếu doanh nghiệp cũng tăng +80 bps so với cùng kỳ.

TCB cũng tận dụng tỷ lệ LDR cao hơn (79,2%) và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cao hơn (34,4%), điều này cũng làm tăng NIM.

Do đó, NII tăng vọt +45,5% so với cùng kỳ lên 6,1 nghìn tỷ đồng.

CASA tiếp tục được thúc đẩy bởi phân khúc bán lẻ: Số dư CASA giảm nhẹ -0,7% so với đầu năm do sự sụt giảm mạnh trong phân khúc CASA doanh nghiệp (-21% so với đầu năm), được bù đắp bởi sự mở rộng mạnh mẽ của CASA bán lẻ (+13,2% so với đầu năm), hiện chiếm tỷ trọng 68% trong tổng số CASA.

Điều này liên quan nhiều đến giá trị giao dịch ngân hàng điện tử dành cho khách hàng bán lẻ tăng mạnh, tăng 102% so với cùng kỳ lên 2 nghìn triệu đồng trong Q1/2021.

Thu nhập ngoài lãi tăng +48% so với cùng kỳ nhờ dịch vụ thu phí bán lẻ: Điều này được thúc đẩy bởi bán bảo hiểm (+76% so với cùng kỳ), dịch vụ ngân hàng đầu tư (+57,3% so với cùng kỳ) và thẻ (+11,2% so với cùng kỳ). Trong khi đó, L/C và dịch vụ thanh toán (+92% so với cùng kỳ), doanh thu kinh doanh ngoại tệ (+23% so với cùng kỳ), và thu từ nợ xấu đã xóa (+225% so với cùng kỳ) cũng có kết quả khả quan.

Thu nhập từ phí ròng liên quan đến dịch vụ quản lý tài sản do TCBS và Techcom Capital cung cấp (bao gồm bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu, môi giới chứng khoán và quản lý quỹ), và phí phân phối trái phiếu tăng 124% so với cùng kỳ lên 250 tỷ đồng. Theo quy định, trái phiếu phát hành theo phương thức phát hành riêng lẻ có thể được phân phối ra công chúng sau một năm.

Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ TCBF do Techcom Capital quản lý tăng +91% so với cùng kỳ lên 28,6 nghìn tỷ đồng, nâng thị phần lên 65% trong tất cả các quỹ trong nước và 88% trong các quỹ trái phiếu.

Trong Q1/2020, TCBS lần đầu tiên lọt vào nhóm 10 công ty về thị phần trên sàn HOSE, đứng thứ 8 với 3,6% thị phần về cổ phiếu và chứng chỉ quỹ

Bancassurance phục hồi mạnh mẽ, đạt 250 tỷ đồng, tăng +76% so với cùng kỳ. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm tăng +81% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức tăng trưởng của ngành. Sau một năm dài chuẩn bị, TCB chính thức áp dụng mô hình bán hàng mới vào năm 2021, bao gồm giới thiệu bán hàng cho khách hàng cao cấp và bán hàng trực tiếp cho khách hàng trung cấp và đại chúng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình bán hàng trực tiếp, TCB đã ra mắt iTCBlife trong quý này, đây là một công cụ tư vấn kỹ thuật số hỗ trợ nhân viên bán hàng xác định nhu cầu của khách hàng. TCB hiện có hơn 3.700 nhân viên giao dịch có giấy phép bán bảo hiểm.

Tỷ lệ CIR có xu hướng giảm: Tỷ lệ CIR giảm xuống 28,7% từ 31,9% trong năm 200. Trên thực tế, đây là mức thấp nhất trong chín quý vừa qua. TCB đã tăng TOI +15% so với quý trước, hay 1,2 nghìn tỷ đồng, với chỉ thêm 80 nhân viên (+0,7% so với quý trước) do số hóa và gia tăng ở tất cả các dòng thu nhập, đặc biệt là quản lý tài sản thu phí và thu từ nợ xấu đã xóa.

Theo TCB, tỷ lệ CIR thấp giúp ngân hàng có nhiều dư địa để tiếp tục đầu tư vào công nghệ.

Chất lượng tài sản vượt trội: PPOP tăng trưởng mạnh (+64% so với cùng kỳ) giúp TCB có khả năng trích lập dự phòng nhiều hơn cho các khoản cho vay có vấn đề (+10,2% so với cùng kỳ). Tỷ lệ nợ xấu tiếp tục giảm xuống 0,37%, mức thấp nhất trong lịch sử của TCB và trong số ngân hàng mà chúng tôi nghiên cứu. Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu tăng lên đến 219%.

Dư nợ tái cơ cấu giảm -15,2% so với đầu năm xuống còn 6,7 nghìn tỷ đồng, tương đương 2,3% tổng dư nợ. Ngân hàng kỳ vọng số dư này sẽ giảm và ước tính mức trích dự phòng cho nợ tái cơ cấu tối đa là 100 tỷ đồng trong năm 2021.

Hệ số CAR ở mức 15,8%, trong đó vốn cấp 1 là 97,5%. Con số này cao hơn nhiều so với mức tối thiểu là 8,00%

Ước tính năm 2021 và định giá

Kế hoạch của ban lãnh đạo

Năm 2021, TCB dự kiến nhu cầu tín dụng từ phân khúc bán lẻ sẽ phục hồi, đặc biệt là cho vay mua nhà và ô tô. Chi phí vốn dự kiến sẽ giảm hơn nữa do môi trường lãi suất thấp trong thời gian dài, cũng như số dư CASA gia tăng. Tuy nhiên, NIM được dự báo sẽ đi ngang do áp lực cạnh tranh đối với cả tiền gửi và cho vay.

Tỷ lệ CIR và tỷ lệ nợ xấu dự kiến sẽ tăng do đầu tư vào số hóa, cũng như tỷ lệ nợ xấu mới hình thành.

Ước tính và định giá của chúng tôi

Chúng tôi nâng ước tính LNTT năm 2021 +11,7% lên 20,7 nghìn tỷ đồng (+31% so với cùng kỳ), khi chúng tôi điều chỉnh giả định tăng trưởng tín dụng (từ 18,4% YoY lên 23,1% YoY), NIM cải thiện (từ 5,00% lên 5,27%) và giảm hệ số CIR (từ 33,5% xuống 32,5%).

Chúng tôi ước tính NIM sẽ tăng nhẹ lên 5,27% do chi phí vốn được cải thiện. Do đó, tăng trưởng NII ước tính đạt +25,2% so với cùng kỳ. Chúng tôi ước tính thu nhập từ phí ròng sẽ tăng +24,5% so với cùng kỳ nhờ vào các hoạt động bán bảo hiểm, ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán, trong khi thu nhập ngoài lãi khác ước tính sẽ tăng +13,6% YoY so với mức cao trong năm 2020.

Tỷ lệ CIR ước tính ở mức 32,5% để phản ánh chi phí nhân viên thấp hơn, do TOI tăng trưởng mạnh và mức độ tự động hóa và số hóa cao hơn.

Chi phí dự phòng ước tính giảm -30,5% so với cùng kỳ.

Chúng tôi cũng ước tính LNTT năm 2022 đạt 24,8 nghìn tỷ đồng (+20% so với cùng kỳ), được thúc đẩy bởi tăng trưởng tín dụng và tiền gửi lần lượt là +22,7% và +21% so với cùng kỳ, NIM cải thiện lên 5,37%.

Giá trị sổ sách năm 2021/2022 ước tính lần lượt là 25.751 đồng và 31.303 đồng, với giả định không có ESOP trong năm 2022.

Tại mức giá 41.000 đồng/cổ phiếu, cổ phiếu TCB đang giao dịch với hệ số P/B 2021 và 2022 lần lượt là 1,59x và 1,31x. Chúng tôi thực hiện định giá đến tháng 6/2022 và sử dụng BVPS trung bình của năm 2021 và 2022. Do đó, với hệ số P/B mục tiêu không đổi là 1,7x, chúng tôi đưa ra giá mục tiêu 1 năm cho TCB là 48.500 đồng/cổ phiếu. Theo đó, chúng tôi duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với TCB, với tiềm năng tăng giá là 18,3%.

Rủi ro: Rủi ro giảm chính đối với khuyến nghị của chúng tôi là các khoản cho vay có vấn đề cao hơn dự kiến.

Yếu tố hỗ trợ tăng: Thu nhập cao hơn dự kiến nhờ NIM và thu nhập phí tăng mạnh hơn.

Nguồn: SSI

×
tvi logo