TCB: Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ với NIM và chất lượng tài sản bền vững

TCB: Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ với NIM và chất lượng tài sản bền vững

Lượt xem: 185
  •  

Luận điểm đầu tư

Chúng tôi điều chỉnh khuyến nghị đối với TCB lên KHẢ QUAN từ Trung lập, nhưng giữ nguyên giá mục tiêu 1 năm là 58.200 đồng/cp, tiềm năng tăng giá 17,6%. Mảng tư vấn phát hành và phân phối trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục hưởng lợi từ môi trường lãi suất thấp kéo dài trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, TCB có dư nợ cho vay nhóm BĐS cao, đây là những công ty có tham gia đầu tư vào mảng khách sạn, nhà hàng hiện có rủi ro cao hơn, có thể ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

TCB công bố KQKD khả quan trong Q2/2021 với tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế lần lượt đạt 9,2 nghìn tỷ đồng (+58,3% YoY) và 6 nghìn tỷ đồng (+66,4% YoY). Kết quả này là nhờ tăng trưởng tín dụng cao (+12,6% YTD, +35% YoY), NIM tăng mạnh lên 5,9% (+157 bps YoY), tăng trưởng thu nhập phí mạnh mẽ (+24% YoY) và lãi kinh doanh chứng khoán và ngoại hối tăng đáng kể (+241% YoY) cũng như CIR cải thiện và chi phí tín dụng giảm.

Lũy kế 6T2021, LNTT đạt 11,5 nghìn tỷ đồng (+71,2% YoY), hoàn thành 58,3% kế hoạch năm 2021 (19,8 nghìn tỷ đồng). Riêng ngân hàng mẹ đạt 9,6 nghìn tỷ đồng (+69,2% YoY), các công ty con đạt 2 nghìn tỷ đồng (+82% YoY). ROA và ROE 6T2021 vẫn ở mức cao là 3,9% và 23,6%.

Kết quả kinh doanh Q2/2021

Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trên tất cả các phân khúc.

Tăng trưởng tín dụng tiếp tục đà tăng mạnh mẽ kể từ 2020, đạt +12,6% YTD (+35% YoY), cao hơn nhiều so với trung bình toàn hệ thống là +5,5% YTD (Tăng trưởng tính theo quy định của NHNN chỉ ở mức 11,2% YTD, thấp hơn nhiều so với mức trần ban đầu là 12% YoY cho năm 2021).

Cho vay bán lẻ hồi phục khá +16% YTD, sau khi trải qua năm 2020 ảm đạm, chỉ đạt +5.6% YoY. Chúng tôi ước tính tăng trưởng mạnh nhất là cho vay thế chấp tài sản nhà, cho vay hộ gia đình, cho vay trả góp và các khoản vay khác (+31% YTD), cũng như cho vay mua nhà (+15,6% YTD) và cho vay mua ô tô (+12% YTD).

Cho vay SME, khách hàng doanh nghiệp lớn và trái phiếu doanh nghiệp tăng khá đồng đều ở mức 10,3% YTD, 11,2% YTD và 10,7% YTD. Sau năm 2020 tăng trưởng mạnh, mảng cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (+42,2% YoY) đã tăng vị thế trong tổng tín dụng, đóng góp 49% so với chỉ 42,6% trong 2019.

Theo ngành, cho vay ngành tiêu dùng nhanh, bán lẻ, kho vận tổng cộng tăng 19% YTD, lĩnh vực ReCoM (bất động sản, xây dựng, vật liệu) tăng 11% YTD, trong khi cho vay du lịch giải trí (chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ Covid19) giảm 45% YTD.

NIM Q2/2021 tăng +157 bps so với cùng kỳ lên 5,90%. NIM đã tăng trong 9 quý liên tiếp và đặc biệt ở mức cao trong 4 quý vừa qua. Cụ thể do:

• Lãi suất huy động trung bình giảm -200 bps so với cùng kỳ, mức giảm mạnh nhất toàn hệ thống. TCB hạn chế tăng huy động từ khách hàng (+3,8% YTD) mặc dù tăng trưởng tín dụng mạnh (+12.6% YTD). Điều này dẫn đến LDR ngân hàng mẹ tăng lên 76,6%, từ 72,5% trong năm ngoái.

• CASA tăng +55,1% so với cùng kỳ, chủ yếu từ khách hàng cá nhân. Tỷ lệ CASA tăng lên 46,1% từ 36,7% trong Q2/2020. 90% tăng trưởng của CASA được thực hiện trong nửa cuối năm 2020 và bắt đầu chậm lại trong 6T2021 (+4,2% YTD).

• TCB tăng tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng mẹ lên 39,1% từ 25,5% trong năm ngoái. Ngân hàng đã tích cực tăng cho vay trung và dài hạn, +16,9% YTD (so với cho vay ngắn hạn, chỉ tăng +5,1% YTD). Đồng thời, tiền gửi dài hạn từ khách hàng giảm -22% YTD, trong khi tiền gửi ngắn hạn tăng +5,3% YTD. Cần lưu ý rằng mức trần cho tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn hiện là 40%. Theo lộ trình của các ngân hàng trong nước, tỷ lệ này cần giảm xuống 37% kể từ tháng 10/2021.

• Tổng dư nợ cho vay tăng 41 nghìn tỷ đồng so với đầu năm, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 11,7 nghìn tỷ đồng so với đầu năm. 29,3 nghìn tỷ đồng còn lại (chiếm 72% mức tăng tổng dư nợ cho vay) đến từ nguồn vốn lãi suất thấp hơn từ các tổ chức tài chính khác, một phần lớn ở nước ngoài. Chúng tôi lưu ý rằng vốn huy động từ tổ chức tài chính khác trong 6T2021 tăng 43,2 nghìn tỷ đồng (+91% YTD). Theo ban lãnh đạo, nguồn vốn này cũng được đầu tư vào thị trường liên ngân hàng. Cho vay và tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác tăng 80% YTD.

• Lãi suất cho vay tăng +43 bps so với cùng kỳ, do chuyển sang cho vay kỳ hạn dài hơn. Lợi suất trái phiếu doanh nghiệp cũng tăng +15 bps so với cùng kỳ.

Nhìn chung, chi phí vốn trung bình giảm -121 bps so với cùng kỳ, trong khi lợi suất tài sản tăng +53 bps so với cùng kỳ. Thu nhập lãi thuần Q2/2021 tăng +67,2% so với cùng kỳ lên 6,58 nghìn tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi tăng mạnh: Thu nhập ngoài lãi 6T2021 đạt 5,43 nghìn tỷ đồng, tăng 43,7% so với cùng kỳ. Cụ thể:

• Thu nhập từ phí bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp tăng +30% so với quý trước trong Q2/2021. TPDN và dịch vụ ngân hàng đầu tư khác đóng góp 1,8 nghìn tỷ đồng, +30,2% so với cùng kỳ trong 6T2021.

• Thu nhập từ phí bancassurance 6T21 tăng +48% so với cùng kỳ nhưng giảm -4% so với quý trước trong Q2/2021 do ảnh hưởng từ giãn cách xã hội kéo dài do làn sóng bùng phát Covid-19 thứ 4.

• Thu nhập từ dịch vụ thẻ đạt 581 tỷ đồng, +41% so với cùng kỳ nhờ tăng cơ sở khách hàng (+35,6% YoY lên 4,4 triệu khách) và tăng số lượng giao dịch của khách hàng cá nhân (+94,5% YoY).

• Thu nhập từ phí thư tín dụng (LC) và thanh toán tiền mặt tăng +31% YoY, nhờ hoạt động kinh doanh hồi phí. Tính đến tháng 6/2021, giá trị cam kết LC của TCB tăng 46% YTD lên 45 nghìn tỷ đồng.

• Thu nhập từ kinh doanh và đầu tư chứng khoán tăng 42,4% YoY lên 1,4 nghìn tỷ đồng. Xu hướng lãi suất thị trường giảm thấp trong 6T2021 đã hỗ trợ mảng kinh doanh này.

• Thu hồi nợ xấu tăng 172% so với cùng kỳ lên 711 tỷ đồng.

CIR tiếp tục xu hướng giảm còn 28,1% trong Q2/2021.

Chi phí hoạt động trong 6T2021 tăng lên 5,2 nghìn tỷ đồng (+30% YoY), khiến CIR giảm còn 28,4% từ 33,4% trong cùng kỳ năm ngoái. Điều này chủ yếu do chi phí nhân viên (+30% YoY) và chi phí quản lý (+49% YoY) tăng, liên quan đến việc tăng cường đầu tư CNTT để hỗ trợ nền tảng đầu tư. Ngoài ra, chi phí cho chương trình hoàn tiền 1% tăng mạnh dẫn đến chi phí quản lý tăng. Chi phí khấu hao, mặc dù tỷ trọng nhỏ (5,1% tổng chi phí hoạt động), tăng 51% so với cùng kỳ. Điều này cùng xu hướng với mức tăng chi phí mua tài sản cố định là 1,9 nghìn tỷ đồng trong 6T2021, tăng 8,3 lần so với 6T2020, chủ yếu liên quan đến đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin.

Chất lượng tài sản tiếp tục cải thiện.

Nợ xấu tiếp tục giảm chỉ còn 0,36% tổng dư nợ cho vay, mức thấp nhất trên toàn hệ thống tại thời điểm Q2/2021, trong khi tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLCR) tăng lên 259% - ở trong nhóm cao nhất toàn hệ thống. Chi phí tín dụng ở mức 0,8% trong quý và 1% trong nửa đầu năm (giảm so với trước), nhưng chúng tôi lưu ý rằng chi phí dự phòng cho TPDN và tài sản khác tăng (+235% YoY lên 436 tỷ đồng).

Nợ tái cơ cấu theo Thông tư 01 là 2,7 nghìn tỷ đồng (0,9% tổng dư nợ cho vay), giảm mạnh từ 6,7 nghìn tỷ đồng (2,3% tổng dư nợ cho vay) trong Q1/2021.

CAR đạt 15,2%, trong đó 97,4% là vốn cấp 1, cao hơn nhiều so với mức tối thiểu là 8%.

Ước tính và Định giá

• NHNN đã thông qua việc nới mức trần tín dụng cho TCB từ 12% YoY ban đầu lên hơn 17% YoY. Chúng tôi cho rằng NHNN có thể nới thêm mức trần tín dụng trong nửa cuối năm và duy trì giả định tăng trưởng tín dụng là 23,1% YoY trong 2021.

• TCB lên kế hoạch giảm lãi suất cho vay và giảm phí giảm dịch và phí trả trước để hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng từ Covid-19 trong nửa cuối 2021. Cụ thể, mức giảm lên tới 1,5% cho các khoản vay hiện tại của khách hàng chịu ảnh hưởng và 1% cho khoản vay mới cho tất cả khách hàng doanh nghiệp và một số khách hàng cá nhân.

• Mặc dù vậy, chúng tôi điều chỉnh giả định mức tăng của NIM (từ 5,27% lên 5,45%) do chi phí vốn cải thiện và đã giảm đáng kể trong 6T2021. Do đó, tăng trưởng thu nhập lãi thuần ước tính là 29,6% YoY.

• Chúng tôi ước tính thu nhập phí thuần tăng 40,4% YoY nhờ mảng bancassurance, ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán, trong khi thu nhập ngoài lãi khác ước tính tăng +27,8% YoY.

• Chúng tôi cũng ước tính chi phí hoạt động tăng trong nửa cuối 2021, do một số khoản đầu tư liên quan đến hoạt động marketing và chuyển đổi số bị trì hoãn và kéo dài do bùng phát dịch bệnh Covid-19. Các hoạt động này sẽ quay trở lại trong Q4/2021, nếu dịch bệnh đạt đỉnh trong tháng 8 tại Việt Nam, theo kịch bản cơ sở của chúng tôi.

• Bên cạnh đó, chúng tôi giảm ước tính CIR (từ 32,5% còn 30%) để phản ánh chi phí nhân viên giảm. Điều này do tăng trưởng thu nhập hoạt động (TOI) mạnh cũng như tăng cường tự động hóa và số hóa. Chi phí dự phòng ước tính giảm 2,6% so với cùng kỳ.

Nhìn chung, chúng tôi tăng 7,5% dự báo LNTT 2021 lên 22,3 nghìn tỷ đồng (+40,8% YoY).

Chúng tôi cũng ước tính LNTT 2022 là 27,2 nghìn tỷ đồng (+22,1% YoY), do tăng trưởng tín dụng và huy động là +22,9% YoY và +21% YoY, và NIM không đổi ở mức 5,44%.

Ở mức giá 49.500 đồng/cp, TCB đang giao dịch tại PB 2021 và 2022 là 1,9x và 1,54x, sát với trung bình toàn hệ thống.

Dựa trên chất lượng tài sản khả quan của ngân hàng với ROE ở mức cao trên 20% trong những năm tới, chúng tôi điều chỉnh tăng PB mục tiêu lên 2x (từ mức trước là 1,7x). Giá mục tiêu 1 năm đối với TCB là 58.200 đồng/cp, sử dụng BVPS trung bình năm 2021 và 2022. Giá mục tiêu tăng 17,6% so với giá hiện tại và do đó, chúng tôi nâng khuyến nghị lên KHẢ QUAN, từ Trung lập.

Rủi ro: Yếu tố giảm đối với khuyến nghị của chúng tôi là khả năng nợ xấu và nợ tái cơ cấu cao hơn ước tính.

Nguồn: SSI

×
tvi logo