STB: NIM cải thiện thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi ròng trong Quý 3/2019

STB: NIM cải thiện thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi ròng trong Quý 3/2019

Lượt xem: 243
  •  

STB đã công bố kết quả hợp nhất quý 3, với lợi nhuận trước thuế (LNTT) là 1,03 nghìn tỷ đồng (+223% YoY)

 

Lũy kế 9T2019, LNTT đạt 2,49 nghìn tỷ đồng, tăng đáng kể 90% YoY và hoàn thành 93% kế hoạch năm. Kết quả tích cực này chủ yếu xuất phát từ việc biên lãi ròng (NIM) được cải thiện nhiều, qua đó thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi ròng (NII) đạt 41,3% YoY. Tăng trưởng cho vay và tiền gửi khách hàng lần lượt là 13,5% YTD và 14,3% YTD.

NIM tăng 93 bps lên 3,38% QoQ giúp STB đạt kết quả tích cực trong quý 3.Điều này chủ yếu là do lợi suất tài sản sinh lãi tăng lên 9,77% so với 8,83% trong Q2 và 9,32% trong năm 2018. Trong 6T2019, STB đã giải ngân tín dụng cá nhân với lãi suất cố định trong 3 tháng đầu và lãi suất thả nổi cho giai đoạn còn lại. Quý 3 là thời điểm mà hầu hết các khoản vay này chuyển từ lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi. Thời điểm này tạo cơ hội cho lợi suất cho vay bình quân tang lên. Cho vay bán lẻ của STB vẫn chiếm khoảng 61% tổng dư nợ cho vay. Về ứng dụng di động SacombankPay, mục đích của ngân hàng là thúc đẩy tín dụng tiêu dùng với NIM tốt hơn, nhưng tác động của dư nợ cho vay thông qua ứng dụng này vẫn còn rất ít tại thời điểm của báo cáo này. SacombankPay là một ứng dụng quản lý tài chính mà Sacombank phát hành với sự kết hợp các tính năng và tiện ích để giúp khách hàng dễ dàng gửi tiền, chuyển tiền và thanh toán.

Tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ xuống còn 2,00%(5.809 tỷ đồng) từ 2,04% kể từ ngày 30/6/2019, trong khi tỷ lệ LLR liên tục tăng lên 70,5% từ 62,4% vào cuối năm 2018 và 68,5% vào cuối Q2/2019. Bên cạnh đó, tỷ lệ cho vay Nhóm 2 cũng được giữ ổn định ở mức 0,4% trên tổng dư nợ cho vay.

Việc xử lý nợ thuộc đề án tái cơ cấu sát với ước tính của chúng tôi. Mặc dù các khoản phải thu và lãi dự thu chỉ giảm 0,9% YoY và 3,1% YoY, dư nợ VAMC giảm đáng kể 3.888 tỷ đồng (-11% QoQ) xuống còn 31.628 tỷ đồng dẫn đến tỷ lệ nợ thuộc đề án tái cơ cấu trên tổng tài sản giảm xuống còn 14,4 % từ 18,2% vào cuối năm 2018 và 15,6% vào cuối quý 2/2019.

Bảng. Ước tính nợ xấu, nợ thuộc đề án tái cơ cấu (tỷ đồng)

 

2016

2017

2018

30/6/2019

30/9/2019

Nợ xấu

13.745

10.405

5.427

5.703

5.809

Nợ nhóm 3-5

13.745

10.405

5.427

5.703

5.809

Nợ thuộc đề án tái cơ cấu

82.375

91.061

76.328

71.769

68.207

Ghi nhận tại nợ nhóm 1

8.380

7.613

0

 

 

VAMC

38.301

43.267

40.233

38.568

35.006

Các khoản phải thu

12.591

18.683

16.953

15.900

15.900*

Lãi dự thu

21.576

20.990

18.908

17.302

17.302*

Khác

1.527

508

234

 

 

Tổng nợ xấu và nợ thuộc đề án tái cơ cấu

96.120

101.465

81.755

77.472

74.017

Tổng chi phí dự phòng

4.082

4.698

6.092

6.960

7.476

Nợ nhóm 3-5

2.432

2.749

3.523

3.908

4.098

VAMC

1.650

1.949

2.570

3.052

3.378

Giá trị ròng nợ xấu và nợ thuộc đề án tái cơ cấu

92.038

96.767

75.663

70.512

66.540

*BCTC Q3 không có thuyết minh chi tiết về các khoản phải thu thuộc đề án tái cơ cấu. Chúng tôi giả định giá trị các khoản này tương đương tính với thời điểm cuối Q2, do tổng giá trị tất cả khoản phải thu trong bảng cân đối kế toán không đổi.

Quan điểm của chúng tôi:Mặc dù LNTT tăng trong quý 3 cũng như khả năng sinh lời và chất lượng tài sản cải thiện, yếu tố then chốt cho luận điểm đầu tư vào STB là tốc độ giải quyết các khoản nợ thuộc đề án tái cơ cấu. Chúng tôi tin rằng đây vẫn là một nhiệm vụ dài hạn. Mặc dù có một quý đạt LNTT ấn tượng, khả năng tiếp tục duy trì lợi nhuận ở mức cao để đẩy nhanh trích lập dự phòng, đặc biệt là cho các khoản phải thu, vẫn còn là một điểm quan ngại. Việc xử lý tài sản ký quỹ không chỉ gặp phải những thách thức liên quan đến việc bán đấu giá, mà còn liên quan đến kỳ hạn thanh toán đối với các tài sản lớn, thực hiện thanh toán nhiều lần với phí chậm thanh toán đã đàm phán. Trong 9T2019, ngân hàng cũng phát sinh doanh thu từ phí chậm thanh toán cho thấy rằng người mua có vẻ đã thực sự trì hoãn nghĩa vụ thanh toán. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng ở mức 13-15% và ROE ở mức 10% trong giai đoạn tái cơ cấu cũng gây áp lực lên các yêu cầu về vốn. Sau khi xử lý xong các khoản nợ thuộc đề án tái cơ cấu, STB sẽ phải tiếp tục giải quyết vấn đề tăng vốn, dẫn đến rủi ro pha loãng tương đối lớn trong quá trình này.

Lợi nhuận trước thuế Q4 phần lớn dựa vào mức trích lập dự phòng mà STB sẽ sử dụng để xử lý các khoản tài sản có vấn đề. Mặc dù lợi nhuận trước trích lập dự phòng (PPOP) theo dự báo của chúng tôi đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, tăng 53,7% YoY nhưng STB có thể sẽ dành phần lớn lợi nhuận để tăng cường trích lập dự phòng. STB đang giao dịch tại PB và PE TTM là 0,8 lần và 7,4 lần.

(Nguồn: SSI)

×
tvi logo