POW: Tích luỹ cho những ngày giông bão

POW: Tích luỹ cho những ngày giông bão

Lượt xem: 46
  •  

 Trong 6T21, lợi nhuận (LN) ròng của POW tăng 16% svck lên mức 1.384 tỷ đồng, hoàn thành 60% dự báo cả năm của chúng tôi.

 Chúng tôi điều chỉnh tăng EPS 2021/22/23 lên lần lượt 5,1%/14,7%/22,4% với mức sản lượng cao hơn.

 Đánh giá Khả quan với giá mục tiêu cao hơn 15.000 đ/cp

Kết quả kinh doanh 6T21: Tốt hơn mong đợi

Trong 6T21, tổng sản lượng POW giảm 14% svck xuống 9.488 tỷ đồng do sản lượng điện khí và than giảm (-24%/-2% svck), trong khi sản lượng thuỷ điện tăng ấn tượng 76% svck nhờ điều kiện thuỷ văn thuận lợi. Doanh thu 6T21 giảm nhẹ 0,4% svck nhờ mức tăng 14% giá bán trung bình (ASP). Biên LN gộp giảm 2 điểm % với nguyên nhân chính đến từ giảm sản lượng điện khí. Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm 26% svck, nhờ khoản dự phòng giảm 95% svck. Khoản thu nhập tài chính ròng tăng 144% nhờ khoản lợi nhuận một lần và chi phí lãi suất thấp hơn svck. Do đó, LN ròng 6T21 tăng 16% svck lên 1,384 tỷ đồng, hoàn thành 60% dự báo cả năm của chúng tôi.

Triển vọng 2021-23: Sản lượng điện sẽ dần được phục hồi

Chúng tôi kỳ vọng sản lượng của POW sẽ giảm 5% svck vào năm 2021 và tăng lại lần lượt 16%/1% trong năm 2022/23 với sản lượng từ nhà máy nhiệt điện phục hồi. Đối với từ loại điện, chúng tôi kỳ vọng sản lượng điện than sẽ không thay đổi nhiều, sản lượng thuỷ điện sẽ tăng 44% svck năm 2021 và giảm 18%/4% vào năm 2022/23, và sản lượng điện khí tăng 31%/3% svck vào năm 2022/23. LN ròng POW kỳ vọng giảm 1,3% svck năm 2021 và tăng lại lần lượt 20%/3,3% trong năm 2022/23.

Nhà máy điện khí Nhơn Trạch 3&4 sẽ là động lực tăng trưởng dài hạn

Đến cuối tháng 8, POW sẽ chốt gói thầu EPC Nhơn Trạch 3&4 – nhà máy điện LNG đầu tiên của đất nước. Dự án bao gồm hai nhà máy với tổng công suất 1500MW, sử dụng LNG nhập khẩu từ kho LNG Thị Vải, và dự kiến hoạt động vào Q4/23 và Q2/24. Chúng tôi hy vọng các nhà máy điện này sẽ giúp POW tăng doanh thu 24,2% svck từ 2024 đến 2025.

Đánh giá Khả quan với giá mục tiêu cao hơn 15.000 đ/cp

Chúng tôi nâng giá mục tiêu lên 15.000đ/cp (+11% sv báo cáo trước) với mức tăng EPS 202/22/23 lần lượt là 5,1%/14,7%/22,4%. Chúng tôi tin rằng đã đến lúc để tích luỹ cổ phiếu này với rủi ro giảm giá thấp và tăng trưởng doanh thu ổn định. Rủi ro giảm giá bao gồm (1) thiếu nhiên liệu (than, khí) gây gián đoạn hoạt động sản xuất, (2) Nhơn Trạch 3&4 hoàn thành lâu hơn dự kiến. Tiềm năng tăng giá bao gồm sản lượng điện cao hơn dự kiến.

Chúng tôi thích POW vì:

(1) POW là một trong những công ty phát điện đầu ngành với tổng công suất lên đến 4.200MW. Đáng chú ý, POW là doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực điện khí hiện nay, sở hữu ba nhà máy với công suất đạt 2.700MW (chiếm 28% tổng thị phần điện khí) cùng với hai dự án quan trọng và đang trong quá trình xây dựng là Nhơn Trạch 3&4 (750MW/nhà máy).

(2) Dự án Nhơn Trạch 3&4 là hai dự án trọng điểm của POW với tổng mức đầu tư đạt 34.000 tỷ đồng, và đây sẽ là động lực chính cho tiềm năng tăng trưởng của POW trong dài hạn. Chúng tôi kỳ vọng Nhơn Trạch 3&4 sẽ đóng góp 36% vào tổng doanh thu của POW khi đi vào hoạt động.

(3) Dự thảo Quy hoạch điện VIII (QHĐ 8) là bàn đạp cho xu hướng phát triển các nhà máy điện khí do: (1) Theo kế hoạch, công suất lắp đặt điện khí sẽ tăng nhanh nhất với tăng trưởng kép (CAGR) đạt 8,4% trong giai đoạn 2021- 2045, và (2) các nhà máy điện chạy bằng khí sử dụng nhiên liệu LNG sẽ được tập trung phát triển với tăng trưởng kép đạt 16% trong giai đoạn 2021-30.

(4) Với triển vọng tăng giá 42%, POW là một cơ hội đầu tư tốt, đặc biệt trên góc độ dài hạn do POW là một cổ phiếu phòng thủ, mang trong mình những triển vọng dài hạn và được hưởng lợi từ sự tăng trưởng mức tiêu thụ điện mạnh mẽ, đặc biệt là khi Việt Nam được dự báo sẽ bước vào giai đoạn thiệu điện trong những năm tới. Hơn nữa, giá cổ phiếu của POW đã giảm 25,3% kể từ đầu năm và hiện đang ở mức giá hấp dẫn để tích luỹ.

Chúng tôi đánh giá Khả quan POW với giá mục tiêu cao hơn 15.000đ/cp (+11% sv báo cáo trước đó của chúng tôi) với EPS năm 2021/22/23 tăng lên lần lượt là 5,1%/14,7%/22,4%. Giá mục tiêu cho 1 năm của chúng tôi dựa trên hai phương pháp định giá DCF và EV/EBITDA với tỷ trọng tương đương:

 Định giá DCF 10 năm (WACC: 12,4%, COE: 15,1%, LTG: 1,0%) để phản ánh quan điểm thận trọng của chúng tôi về tăng trưởng của POW. Chúng tôi tin rằng định giá DCF là một phương pháp hợp lý do POW có dòng tiền ổn định và dễ dự đoán.

 EV/EBITDA với hệ số nhân 7,1x ( tăng từ mức 6,6x trong dự báo trước của chúng tôi) để phản ánh niềm tin lớn hơn của chúng tôi vào triển vọng thu nhập của POW khi thực hiện hai nhà máy điện khí Nhơn Trạch 3&4.

Rủi ro giảm giá

 Lệnh giãn cách xã hội toàn quốc kéo dài hơn dự kiến sẽ gây cản trở sự phục hồi của hoạt động sản xuất, điều này có thể làm ảnh hưởng trực tiếp tới mức tiêu thụ điện năng.

 Việc thiếu nguồn cung nhiên liệu (than, LNG) cũng sẽ làm giảm sản lượng điện sản xuất.

 Thời gian hoàn thành Nhơn Trạch 3&4 dài hơn dự kiến.

Tiềm năng tăng giá

 Sản lượng điện và giá bán bình quân điện khí cao hơn so với dự kiến.

Nguồn: VNDS

×
tvi logo