NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (STBVN): Cập nhật nửa đầu năm 2020

NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (STBVN): Cập nhật nửa đầu năm 2020

Lượt xem: 310
  •  

SƠ LƯỢC

1. Giới thiệu

Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB VN - Sacombank) được thành lập dưới sự hợp nhất của tổ chức bao gồm Ngân hàng phát triển kinh tế Gò Vấp và 3 hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia. STB tiến hàng IPO vào năm 1996 và lên sàn vào năm 2006, là ngân hàng đầu tiên được niêm yết trên sàn chứng khoán. Vào năm 2015, STB sát nhập với ngân hàng TMCP Phương Nam với tỷ lệ chuyển đổi 1:0,75, bước vào giai đoạn khó khăn. Hiện tại STB là ngân hàng có tổng tài sản sếp thứ tư trong danh mục theo dõi của chúng tôi, chỉ sếp sau các ngân hàng quốc danh.

2. Cột mốc

Hình 1: Hành trình Sacombank

3. Mạng lưới

Hình 2: Mạng lưới hoạt động

Nhìn chung, mạng lưới hoạt động của STB phân bổ chính ở miền Nam và miền Trung. Trong năm 2019, STB mở thêm 4 chi nhánh phía bắc, tăng cường độ phủ tại khu vực này. Ngoài ra, STB cũng có hai chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài gồm Lào và Campuchia.

Phân bố tài sản và nợ vẫn tập trung chủ yếu tại miền Nam, mặc dù, số lượng chi nhánh và nhân viên được phân b ổ ở các vùng khác chiếm tỉ trọng khá cao. Sacombank có dự định thúc đẩy ho ạt động của các vùng có tỉ trọng thấp trong thời gian sắp t ới, thông qua việc mở mới các chi nhánh tại những vùng lãnh thổ này cũng như tăng tỉ trọng tài sản và huy động. Thu nhập của khu vực phía nam vẫn đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu thu nhậ p STB. Khu vự này đóng góp hơn 67% tổng thu nhập thuần của ngân hàng. Tuy là vùng đóng góp thu nhập chính cho ngân hàng, lợi nhuận vẫn chịu nhiều áp lực từ nợ xấu.

4. Cơ cấu cổ đông

Cơ cấu cổ đông của STB khá loãng khi không có một nhà đầu tư cả cá nhân và tổ chức nào nắm giữ trên 5%. Theo báo cáo thường niên năm 2019, thì ông Dương Công Minh – Chủ tịch hội đồ ng quản trị củ a STB – và những người liên quan chỉ sở hữu khoảng 3,47% STB. Bên cạnh đó, sở hữu của khối ngoại bao gồm cả nhà đầu tư cá nhân và tổ chức sở hữu khoảng 9,15%.

II. Phân tích tài chính


1. Bảng cân đối

Tài sản vẫn giữ được mức tăng trưởng trong năm đầu năm 2020. Kết thúc quý 2, tổng tài sản của STB đạt 481 nghìn tỷ, tăng 6,2% so với đầu năm. Tổng tài sản sinh lãi (IEA) bao gồ m nợ xấu đã hoán đổi thành trái phiếu VAMC đạt 429,6 nghìn tỷ (+8% YTD), chiếm khoảng 5,1% tổng thị trường tín dụng Việt Nam.

Cơ cấu tín dụng ghi nhận nhiều cải thiện. Kể từ lúc sát nhập với NH Phương Nam năm 2015, tỉ trọng tài sản không sinh lời liên tục tăng trong 3 năm liên tiếp từ 2015 – 2017, vì vậy, tăng trưởng thu nhập từ lãi không chỉ dựa trên mức tăng trưởng của danh mục mà còn d ựa vào sự cải thiện của chất lượng tài s ản. Đến hết quý 2 2020, IEA chiếm khoảng 83% tổng tài sản của STB, tăng mạnh từ đáy năm 2016 là 72%.

Danh mục cho vay phân khúc bán lẻ là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng từ 2015. Kết thúc năm 2019, cho vay khách hàng cá nhân – ngân hàng bán lẻ – chiếm 62% tổng danh mục tín dụng ngân hàng, tăng mạnh từ mức 44% trong năm 2014. So sánh v ới các ngân hàng trong danh mụ c theo dõi thì tỉ trọng ngân hàng bán lẻ của STB hiện đang là cao nhất. Trong những năm gần đây, việc tăng tỉ trọng cho vay cá nhân có ph ần chậm lại, vì vậ y chúng tôi cho rằng cơ cấ u nhóm khách hàng hiện tại đã là mức tối ưu và việc cải thiện thu nhập sẽ dựa vào cải thiện chất lượng tài.

2, Nợ phải trả

Cơ cấu nợ phải trả của STB khá đơn giản, phần lớn vốn vay dùng cho hoạt độ ng tín dụng được huy động từ nguồn tiền gử i khách hàng. Tiền gửi khách hàng chiếm 96,4% tổ ng nợ vay chịu lãi (IBL) của ngân hàng vào cuối quý 2 2020, cao nhất trong nhóm ngân hàng được theo dõi. Thông thường, chi phí lãi vay của tiền gửi thấp hơn so với các nguồn vốn khác (phát hành giấy tờ có giá), vì vay và tiền gửi liên ngân hàng không được xem là nguồn vố n dài hạn cho hoạt động tín dụ ng. Vì vậy, chúng tôi cho rằng STB có lợ i thế riêng trong việc huy động vốn vay. Ngoài ra, tỉ lệ tiền gửi cao cũng giúp STB sở hữu tỉ lệ cho vay trên tiền gử i (LDR) thấp nhất trong nhóm ngân hàng được theo dõi với 71,2% trong quý 2 2020. Tỉ lệ LDR thấp đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả năng tăng tỉ trọng cho vay trong danh mục tín dụng trong khả năng cho phép của ngân hàng, phù hợp với chiến lược phát triển và kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

Mặc dù STB không có một hệ sinh thái tốt như một vài ngân hàng khác như sự h ợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp hay sự hỗ trợ từ đối tác chiến lược, ngân hàng vẫn duy trì được sự trung thành của khách hàng. Điều này đượ c thể hiện qua việc khách hàng không rút tiền mạnh trong giai đoạn 2016 và 2017, khi ngân hàng phải tái cơ cấu tài sản và đối mặt với khoản nợ xấu lớn.

Tỉ lệ tiền gửi không k ỳ hạn (CASA) liên tục cải thiện trong những năm gần đây, đạt 16,4% trong 2Q20 (+0,8% YoY). Tỉ lệ CASA cải thiện cũng đồng nghĩa vớ i giảm chi phí lãi vay cho ngân hàng. So vớ i các ngân hàng khác thì tỉ lệ CASA của STB không quá thua kém, ngoại trừ các ngân hàng có tỉ lệ CASA cao đặc biệt như VCB, MBB và TCB. Các yếu tố hỗ trợ cho tăng trưởng CASA trong các năm tới như làn sóng ngân hàng số, giao dịch không tiền mặt và thương mại điện tử.

Trong năm 2018, STB thực hiện một số nâng cấp hệ thống ho ạt động. Trong tháng 3 2018, Ngân hàng cho ra mắt phần mềm khởi tạo, phê duyệt và quản lý c ấp tín dụng LOS. Hệ thống này giúp nhân viên kiểm soát tốt hơn quá trình cho vay, kiểm soát tài sản đảm bảo và lưu trữ dữ liệu. STB cũng cho ra mắt ứng dụng Sacombank Pay vào cuối năm 2018. Ứng dụng này có chức năng tương đương một ví điện tử cho phép cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng (không có tài khoản tại STB) thực hiện các giao dịch trực tuyến. Ngoài ra, STB cũng là mộ t trong những ngân hàng đầu tiên cho phép khách hàng rút tiền mà không cần thẻ ATM, gia tăng sự tiện dụng và an toàn.

Nguồn: Mirae Asset Research

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

×
tvi logo