Ngành Viễn thông: Kết nối và Phát triển

Ngành Viễn thông: Kết nối và Phát triển

Lượt xem: 15
  •  

Tổng quan ngành:

Sự phát triển công nghệ viễn thông mang lại nhiều ứng dụng, sản phẩm và dịch vụ giúp cải thiện chất lượng đời sống và công việc. Viễn thông đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu chuyển đổi số của quốc gia.

Việt Nam có 6 hệ thống cáp biển kết nối với các nước trên thế giới và các hệ thống cáp đất liền xuyên biên giới kết nối với các quốc gia láng giềng bên cạnh. Trong năm 2021, Viettel và VNPT cùng tham gia đầu tư xây dựng thêm 2 đường dây cáp quang mới và dự kiến sẽ hoàn thành trong năm. Việc có thêm 2 cáp quang mới giúp nâng cao hệ thống hạ tầng để các doanh nghiệp trong nước có thể triển khai các ứng dụng cần kết nối cao như Internet vạn vật (IoT), tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI)…

Thị trường dịch vụ viễn thông trong nước có những bức tranh sáng tối khác nhau. Thị trường dịch vụ thuê bao điện thoại đã đạt mức bão hòa khi thị phần được định hình bởi các công ty lớn như VNPT, Viettel và Mobifone. Các công ty trong thị trường thuê bao điện thoại dường như chỉ tập trung dịch vụ phục vụ chăm sóc khách hàng hiện hữu khi nhu cầu không còn tăng trưởng. Trong khi đó, thị trường băng rộng cố định chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty. Bên cạnh VNPT và Viettel chiếm thị phần lớn nhờ lợi thế từ cơ sở hạ tầng của công ty, FPT cũng nỗ lực giành lấy thị phần nhờ tập trung vào dịch vụ chăm sóc khách hàng và các sản phẩm mới từ thế mạnh của đội ngũ công nghệ thông tin đang hoạt động theo chiến lược toàn cầu hóa.

Các dịch vụ viễn thông quan trọng như điện toán đám mây, truyền hình trả tiền, ví điện tử và smarthome sẽ là xu hướng chính trong tương lai. Tại từng phân khúc thị trường nhỏ chúng tôi nhìn thấy tiềm năng phát triển của các công ty niêm yết. Chúng tôi đánh giá cao FPT trong thị trường điện toán đám mây và truyền hình trả tiền, VGI trong ví điện tử và CTR trong smarthome.

Thị trường băng rộng di động cũng có nhiều tiềm năng khi Chính Phủ chủ trương sử dụng công nghệ 5G. Công nghệ 5G là cơ sở để triển khai IoT và tự động hóa. Chúng tôi cho rẳng CTR sẽ là công ty được hưởng lợi từ chủ trương này. CTR định hướng trở thành nhà vận hành trạm phát sóng số 1 Việt Nam cho đến năm 2025.

Định giá và Khuyến Nghị:

Ngành viễn thông cùng với công nghệ thông tin đang trong giai đoạn phát triển nhanh trên thế giới. Việt Nam cũng không đảo ngược được xu hướng đó. Vì phát triển sau, thị trường trong nước có mức tăng rất lớn để có thể bắt kịp với các nước tiên tiến. Các công ty công nghệ trong nước có mức tăng trưởng lớn trong suốt các năm liền, thậm chí duy trì được tăng trưởng dù có bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Dù các cổ phiếu viễn thông và công nghệ thông tin có mức tăng ấn tượng trong suốt năm qua, chúng tôi tin rằng tiềm năng phát triển của các công ty còn rất lớn. Do đó, chúng tôi đánh giá TÍCH CỰC cho ngành Viễn Thông.

Ngành viễn thông có đóng góp quan trọng đối với tất cả các ngành, lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội. Với đặc thù gắn liền với hạ tầng thông tin và an ninh thông tin, thị trường viễn thông có mức mở hạn chế phạm vi hoạt động và sự tham gia cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thông qua các hiệp định quốc tế như BTA, WTO, EVFTA, các dịch vụ không sở hữu hạ tầng viễn thông có một mức mở tương đối. Chính vì vậy, thị trường xây dựng hạ tầng viễn thông không có nhiều công ty tham gia, còn ở thị trường dịch vụ viễn thông thì diễn ra khá sôi động với nhiều sản phẩm dịch vụ phục vụ cho các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau.

Hạ tầng Viễn Thông

Cơ sở hạ tầng viễn thông có 3 nhóm chính: (1) hệ thống cáp kết nối quốc tế, (2) hệ thống mạng đường trục quốc gia và (3) hệ thống kết nối với người dùng cuối. Chỉ có 2 doanh nghiệp chính là VNPT và Viettel tham gia vào việc xây dựng hệ thống kết nối quốc tế. Đối với hệ thống mạng đường trục quốc gia và kết nối người dùng cuối, các công ty viễn thông tự xây dựng cho riêng mình hoặc thuê lại hệ thống có sẵn từ công ty khác.

Việt Nam có 6 hệ thống cáp biển chính kết nối với các nước trên thế giới và các hệ thống cáp đất liền xuyên biên giới chủ yếu kết nối với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Các tuyến cáp biển có vai trò lớn trong việc kết nối Việt Nam với thế giới. Chi tiết các tuyến cáp quang biển được tóm tắt ở bảng bên dưới. Các tuyến cáp quang đều được các nhà mạng trong nước khai thác, nổi bật là hệ thống cáp AAG kết nối Đông Nam Á với Mỹ. Việt Nam phụ thuộc vào tuyến AAG khi các trang web lớn có server chính bên Mỹ như Google, Facebook, Amazon... Để khắc phục bớt sự phụ thuộc vào hệ thống cáp AAG, hệ thống cáp APG kết nối các nước trong Châu Á được khai thác vào năm 2016 đã giúp tăng lưu lượng cho các nhà khai thác mạng ở Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam đang xây dựng 2 hệ thống cáp biển mới SJC2 (có sự tham gia của VNPT) và ADC (có sự tham gia của Viettel) nhưng đều chưa hoàn thành do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Hệ thống viễn thông trên đất liền là sự kết hợp của hệ thống dây cáp và các trạm thu phát sóng. Các hệ thống này được các doanh nghiệp viễn thông trong nước chủ động xây dựng và vận hành. VNPT là doanh nghiệp dẫn đầu với hệ thống đường dây dài hơn 17,500 km, trải dọc khắp đất nước. FPT Telecom (UpCom: FOX) vận hành mạng đường trục dài 1,800 km của riêng mình, trải dài từ Lạng Sơn về tới Cà Mau, phủ sóng 61/63 tỉnh thành Việt Nam. CMC Telecom (HOSE: CMG) và Công Trình Viettel (UpCom: CTR) cùng vận hành tuyến cáp dài 2,750 km trải dọc khắp

Thị trường dịch vụ điện thoại

Thị trường dịch vụ điện thoại được thống trị bởi các doanh nghiệp Nhà Nước, tiêu biểu là Viettel và VNPT. Trong năm 2019, ở thị trường điện thoại cố định, Viettel và VNPT chiếm lần lượt là 66% và 31% thị phần. Còn ở thị trường điện thoại di động, bên cạnh Viettel và VNPT còn có Mobifone (tách ra từ VNPT) cũng nắm thị phần hơn 15%. Tổng thị phần điện thoại di động của 3 doanh nghiệp này chiếm 97% trong năm 2019.

Thị trường dịch vụ điện thoại đang dần bão hòa. Tính đến năm 2020, số thuê bao điện thoại cố định (điện thoại bàn) chỉ còn 3.2 triệu thuê bao, giảm 41% so với năm 2015 và giảm 78% so với năm 2010. Dịch vụ điện thoại cố định chỉ phục vụ khách hàng là các doanh nghiệp và các tổ chức cơ quan Nhà Nước. Tỷ lệ thuê bao điện thoại cố định tại các hộ gia đình là rất thấp. Còn ở thị trường dịch vụ di động, cả nước có 123.6 triệu thuê bao vào năm 2020, giảm 2% so với năm 2015. Bên cạnh nguyên nhân khách quan là do nhu cầu có thêm thuê bao di động mới không tăng mạnh nữa, còn nguyên nhân chủ quan từ việc Bộ Thông Tin và Truyền Thông (BTTTT) ra quy định yêu cầu các nhà mạng mạnh tay xử lý sim rác.

Thị trường dần bão hòa và thị phần được định hình khá rõ khiến cho các công ty tư nhân lớn như FPT Telecom hay CMC Telecom không tham gia cạnh tranh trong thị trường này. Thị trường băng rộng và giá trị dịch vụ gia tăng mới là thị trường tiềm năng mà nhiều công ty tư nhân tham gia. Chúng tôi sẽ đi sâu vào thị trường băng rộng ở phần tiếp theo.

Thị trường dịch vụ băng rộng

Dịch vụ băng rộng là dịch vụ truyền, truy cập internet tốc độ cao. Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có 16.7 triệu thuê bao sử dụng dịch vụ băng rộng. Các dịch vụ công nghệ băng rộng mặt đất tại Việt Nam gồm có: xDSL, FTTH, Leased Line và CATV. Thông tin về các loại hình công nghệ ở bảng bên dưới.

Nguồn: PHS

×
tvi logo