MSB: Tín dụng tăng mạnh để hỗ trợ chi phí dự phòng trong tương lai

MSB: Tín dụng tăng mạnh để hỗ trợ chi phí dự phòng trong tương lai

Lượt xem: 79
  •  

Luận điểm đầu tư

Chúng tôi duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu của MSB và tăng giá mục tiêu 1 năm thêm 25,1% lên 29.400 đồng/cổ phiếu, tương ứng triển vọng tăng giá là 7,7%. MSB có thể bán vốn ít nhất 50% FCCOM với giá 1 nghìn tỷ đồng hoặc nhiều hơn, nếu điều này xảy ra giá mục tiêu 1 năm đối với cổ phiếu có thể tăng lên. Với kết quả lợi nhuận Q1/2021 tăng mạnh, chúng tôi nâng dự báo LNTT của MSB thêm 10,3% trong năm 2021 lên 3,86 nghìn tỷ đồng (+53% so với cùng kỳ). Trong quý, LNTT đạt 1,2 nghìn tỷ đồng (+296% so với cùng kỳ), hoàn thành 35% kế hoạch năm 2021 (3,3 nghìn tỷ đồng). Nếu không bao gồm khoản lợi nhuận bất thường 200 tỷ đồng từ việc bán danh mục cổ phiếu (MBB), mảng hoạt động cốt lõi của MSB tăng +227% so với cùng kỳ nhờ tăng trưởng từ thu nhập lãi ròng (NII) (+58,8% so với cùng kỳ), thu nhập ngoài lãi (+20,4% so với cùng kỳ) và CIR giảm rõ rệt. Hơn nữa, MSB hiện nằm trong nhóm 3 ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng hàng đầu trong 3 năm qua và chúng tôi nhận thấy chưa có dấu hiệu thay đổi chu kỳ phát triển của ngân hàng. MSB cũng đã xử lý hết trái phiếu VAMC vào năm trước, điều này giúp chi phí tín dụng dài hạn có xu hướng giảm.

Kết quả kinh doanh Q1/2021

Tăng trưởng tín dụng nhờ doanh nghiệp lớn: Tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì đà tăng mạnh từ 2020, tăng 10,4% so với đầu năm (+33,5% so với cùng kỳ), cao hơn so với mức bình quân toàn hệ thống là 2,9% so với đầu năm, kết quả này giúp MSB trở thành ngân hàng phát triển nhanh nhất về lĩnh vực cho vay trong số các cổ phiếu ngân hàng mà chúng tôi nghiên cứu. Động lực tăng trưởng chính tiếp tục đến từ doanh nghiệp lớn và đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (+42,2% so với đầu năm), hai mảng này tăng 79% so với cùng kỳ trong năm 2020. Sau 5 quý liên tiếp tăng trưởng mạnh, mảng này chiếm tỷ trọng 52% trong tổng tín dụng, tăng đáng kể so với mức 28,1% trong năm 2019.

Một số khách hàng doanh nghiệp lớn có các khoản vay được MSB giải ngân trong Q1/2012 bao gồm Tập đoàn Thành Thành Công, Công ty TNHH Thép SMC, SIFLEX từ Hàn Quốc, một số dự án năng lượng tái tạo ở Bình Phước...

Trong khi đó, cho vay khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tăng trưởng khiêm tốn, lần lượt chỉ tăng +1,1% và giảm -20,4% so với đầu năm. Năm 2020, cho vay khách hàng SME cũng giảm -4,1% so với cùng kỳ do ngân hàng hạn chế cho vay nhóm doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19. Trong cho vay bán lẻ, cho vay mua nhà (chiếm 36% tổng dư nợ), cho vay cầm cố tiền gửi (chiếm 18,2% tổng dư nợ) và cho vay tiêu dùng (chiếm 10,8% tổng dư nợ) là những mảng lớn nhất.

NIM giảm so với Q4/2020 nhưng tăng hơn nhiều so với cùng kỳ: Trong năm 2020, NIM tăng dần theo quý phản ánh chi phí vốn giảm. Tuy nhiên, khách hàng gửi tiền tại MSB vẫn được hưởng lãi suất cao hơn đáng kể. Xu hướng này đạt đỉnh trong Q4/2020, giúp NIM đạt 4,11%. Trong Q1/2021, NIM giảm -52 bps so với quý trước còn 3,58% nhưng vẫn tăng 87 bps so với cùng kỳ. NIM tăng so với cùng kỳ là do một số yếu tố như sau:

• Chi phí vốn bình quân giảm -156 bps so với cùng kỳ, do lãi suất huy động trung bình giảm -212 bps so với cùng kỳ và số dư CASA tăng 70% so với cùng kỳ. Tỷ lệ CASA tăng đáng kể lên 32,2% từ mức 21,3% trong Q1/2020.

• MSB tăng tỷ lệ LDR ngân hàng mẹ lên 63,6% từ mức 56,5% trong năm trước nhờ tích cực mở rộng cho vay trung dài hạn, tăng +16,7% so với đầu năm, so với cho vay ngắn hạn chỉ tăng 8,2% so với đầu năm. Ngoài ra, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của ngân hàng mẹ tăng lên 33,2% từ mức 27,9% trong Q1/2020.

• Nhìn chung, NIM cải thiện mặc dù lợi suất tài sản giảm -81 bps so với cùng kỳ sau khi lãi suất cho vay giảm cùng với lãi suất huy động giảm mạnh.

• Thu nhập lãi ròng (NII) tăng 58,8% so với cùng kỳ đạt 1,4 nghìn tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi tăng mạnh: Cụ thể, thu nhập ngoài lãi đạt 644 tỷ đồng, tăng 75% so với cùng kỳ. Điều này chủ yếu là nhờ thu nhập từ kinh doanh trái phiếu (+53,4% so với cùng kỳ) và thoái vốn tại MBB (200 tỷ đồng). Trước đó, MSB đã thoái vốn toàn bộ 56 triệu cổ phiếu MBB và cũng ghi nhận 200 tỷ đồng thu nhập trong Q4/2020.

Thu nhập từ phí bancassurance đạt 60 tỷ đồng, tăng +311% so với cùng kỳ. MSB đặt kế hoạch đạt 350 tỷ đồng thu nhập bancassurance trong năm 2021, +4,9% so với cùng kỳ.

Lãi kinh doanh ngoại hối không đổi ở mức 102 tỷ đồng trong khi thu nhập ròng khác tăng đáng kể +47% so với cùng kỳ.

CIR cải thiện đáng kể so với Q1/2020, tương tự như các ngân hàng khác. CIR giảm 36,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ đạt 34,5% so với mức trung bình các ngân hàng tư nhân là 37,1%. Chúng tôi lưu ý rằng MSB đã cố gắng giảm CIR trong những năm gần đây từ 64% trong năm 2017 xuống còn 50% trong năm 2020. CIR trong Q1/2021 ở mức thấp kỷ lục của MSB.

Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy một điểm bất thường trong chi phí nhân viên. Chi phí nhân viên giảm -32,8% so với cùng kỳ, mặc dù thực tế MSB đã tăng thêm 59 nhân viên so với Q1/2020 hay +1,2% so với cùng kỳ trong Q1/2021. So với Q4/2020, số lượng nhân viên tăng thêm 150 người, hay +3% so với quý trước, nhưng chi phí nhân viên giảm -55% so với quý trước. Chúng tôi cho rằng đây không phải yếu tố ổn định và chúng tôi ước tính khoản mục này sẽ tăng trong các quý tới.

Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu ở mức thấp hàm ý chi phí dự phòng sẽ cao trong tương lai: Chi phí tín dụng giảm 5 bps so với quý trước ở mức 0,97%, đây là mức thấp nhất trong 4 quý vừa qua. Tỷ lệ nợ xấu và nợ xấu mới hình thành đều giảm xuống 1,86%, mức thấp nhất trong 5 năm qua. Tuy nhiên, do MSB không xóa nợ xấu trong quý, tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLCR) không đổi ở mức 54,7% và đây là mức thấp thứ hai trong số các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu. Chúng tôi ước tính MSB có thể ghi nhận bổ sung 755 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng để tăng tỷ lệ LLC lên 100%.

Nợ nhóm 2 tăng 29% so với đầu năm là một vấn đề quan ngại do tỷ lệ nợ Nhóm 2 tăng 18 bps so với đầu năm lên 1,46% trong tổng dư nợ – cao hơn so với mức bình quân toàn hệ thống là 1,13% trong Q1/2021.

Dư nợ tái cơ cấu theo Thông tư 01 là 473 tỷ đồng (chiếm 0,52% tổng dư nợ cho vay), trong đó khách hàng SME chiếm 77% và khách hàng doanh nghiệp lớn chiếm 18%.

Gần đây, ngân hàng đã phân loại 500 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp sang khoản lỗ trong Q1/2021. Nếu ghi nhận khoản này, tỷ lệ nợ xấu có thể tăng lên 2,31%. Theo MSB, toàn bộ khoản này đã được trích lập dự phòng đầy đủ trong tháng 4 theo quy định hiện hành.

Một khoản mục khác là phải thu quá hạn trị giá 1,71 nghìn tỷ đồng cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho MSB. Ngân hàng đã trích lập dự phòng 586 tỷ đồng (tương đương 34,2% tổng nợ quá hạn).

Cập nhật KQKD 5T2021

Tăng trưởng tín dụng đã chạm mức trần được cấp phép đầu năm là 10,5% so với đầu năm và MSB đã xin NHNN tăng mức trần và kỳ vọng được phê duyệt trong tháng 6/2021. Việc kiểm toán áp dụng Basel II đã hoàn tất và theo MSB ước tính mức trần tăng trưởng tín dụng 2021 có thể trong khoảng 20-25% so với cùng kỳ.

Trong 5T2021, TOI và LNTT ước tính đạt lần lượt là 3,7 nghìn tỷ đồng và 2,2 nghìn tỷ đồng, bao gồm 500 tỷ đồng phí bancassurance từ Prudential.

MSB đã bán 82,5 triệu cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu, cổ phiếu sẽ được giao dịch trong tháng 6/2021. Chúng tôi đã đưa yếu tố này vào mô hình định giá.

Ước tính và định giá

Chúng tôi nâng ước tính LNTT năm 2021 thêm +10,3% lên 3,9 nghìn tỷ đồng (+53% so với cùng kỳ), chủ yếu do chúng tôi tăng dự báo NIM +45 bps lên 3,92%. Môi trường lãi suất thấp kéo dài hơn dự báo ban đầu của chúng tôi, điều này có khả năng thúc đẩy chi phí vốn thấp hơn trong tương lai gần.

Chúng tôi ước tính LNTT năm 2022 đạt 4,9 nghìn tỷ đồng (+26,7% so với cùng kỳ), dựa trên mức tăng trưởng tín dụng và tiền gửi lần lượt là 23,7% và 22,2% so với cùng kỳ. NIM và chi phí tín dụng lần lượt ở mức 4,32% và 1,05%.

Tại mức giá 27.300 đồng/cổ phiếu, MSB giao dịch với hệ số P/B 2021 và 2022 lần lượt là 1,5x và 1,3x, thấp hơn so với bình quân toàn hệ thống là 1,8x và mức bình quân ngân hàng tư nhân là 1,7x.

Chúng tôi chuyển định giá đến giữa năm 2022, do đó chúng tôi nâng giá mục tiêu giá 1 năm đối với cổ phiếu MSB lên 29.400 đồng/cp (tăng từ 23.500 đồng/cp), sử dụng BVPS bình quân năm 2021 và 2022 và hệ số P/B mục tiêu cao hơn là 1,5x (từ 1,4x như trước đây). Với triển vọng tăng giá là 7,7%, chúng tôi duy trì khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu MSB.

Rủi ro: Yếu tố làm giảm khuyến nghị của chúng tôi bao gồm tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tái cơ cấu cao hơn dự kiến.

Yếu tố hỗ trợ:

• UBCK chấp thuận MSB thuộc danh sách đủ điều kiện cho vay ký quỹ vào tháng 6/2021, sau 6 tháng niêm yết trên sàn HSX.

• Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 30% trong nửa cuối năm 2021.

• Bán vốn ít nhất 50% FCCOM với mức giá hấp dẫn. Nếu MSB bán hơn 50% FCCOM, theo quy định kế toán của Việt Nam, bất kỳ khoản lãi nào cũng sẽ phải được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu của cổ đông. Giá trị ước tính đối với 50% cổ phần của FCCOM là hơn 1 nghìn tỷ đồng, theo tính toán của chúng tôi. Với giả định việc bán vốn trị giá 1 nghìn tỷ đồng này là chính xác, giá mục tiêu 1 năm đối với cổ phiếu MSB sẽ tăng lên 30.300 đồng/cổ phiếu – tương ứng tiềm năng tăng giá là +11%.

Nguồn: SSI

×
tvi logo