MSB: Lợi nhuận cao nhưng chất lượng tài sản cần cải thiện

MSB: Lợi nhuận cao nhưng chất lượng tài sản cần cải thiện

Lượt xem: 29
  •  

Luận điểm đầu tư

Lợi nhuận trước thuế Q2/2021 tăng mạnh +188% YoY đạt 1,97 nghìn tỷ đồng, nhờ tăng trưởng mạnh thu nhập hoạt động (+87,3% YoY), trong khi CIR giảm và chi phí dự phòng cũng giảm - 41% YoY. LNTT 6T2021 đạt 3,12 nghìn tỷ đồng (+220% YoY), hoàn thành 95% kế hoạch năm là 3,28 nghìn tỷ đồng.

Chúng tôi điều chỉnh tăng 6% ước tính LNTT 2021 lên 4,23 nghìn tỷ đồng (+67,8% YoY), trong khi giảm -9,3% ước tính năm 2022 còn 4,43 nghìn tỷ đồng (+4,6% YoY). Ước tính điều chỉnh phản ánh xu hướng NIM giảm trong hai năm, do xu hướng lãi suất thấp kéo dài. MSB đã ghi nhận 1,6 nghìn tỷ đồng thu nhập từ phí bancassurance trong Q2/2021 và chúng tôi giả định MSB sẽ tiếp tục ghi nhận 400 tỷ đồng thu nhập từ phí này trong 2022.Chi phí dự phòng điều chỉnh tăng +5,8% lên 1,1 nghìn tỷ đồng (+6,7% YoY) trong 2021.

Chúng tôi giảm giá mục tiêu 1 năm đối với MSB còn 29.600 đồng/cp (giảm từ 31.300 đồng/cp), sử dụng BVPS trung bình 2021-2022 và hệ số P/B không đổi là 1,5x. Với tiềm năng tăng giá 4,6%, chúng tôi duy trì khuyến nghị Trung lập đối với MSB.

Kết quả kinh doanh

Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ nhờ khách hàng SME và khách hàng cá nhân: MSB đạt tăng trưởng tín dụng mạnh +10% YTD (hay +21,1% YoY), đứng thứ ba trong số các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu, gần chạm hạn mức ban đầu của Ngân hàng Nhà nước là 10,5%. SMEs (+17,5% YTD) và khách hàng cá nhân (+9,8% YTD) là hai động lực tăng trưởng chính, trong khi cho vay KH doanh nghiệp lớn và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chỉ tăng +7.1% YTD.

Về dư nợ cho vay bán lẻ, chúng tôi nhận thấy tăng trưởng mạnh tại mảng cho vay tiêu dùng (+31.2% YTD), cho vay mua nhà (+8,5% YTD), và cho vay kinh doanh (+35,4% YTD).

Ngoài ra, trong dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp chiếm 74% tổng tín dụng, động lực tăng trưởng chính là các ngành Bất động sản (+41,4% YTD), Xây dựng (+29,5% YTD), và Vật liệu (+23,6% YTD). Cùng với cho vay mua nhà của KH cá nhân (12,4% tổng dư nợ cho vay), chuỗi giá trị BĐS - Xây dựng - Vật liệu đóng góp 39% tổng dư nợ cho vay, đây là mức cao so với các ngân hàng cùng hệ thống. MSB cũng gia tăng cho vay liên ngân hàng bằng cách tăng đầu tư trái phiếu do ngân hàng khác phát hành, cũng như cho vay và tiền gửi tại các ngân hàng khác tăng +11,8% YTD, bù đắp cho số dư trái phiếu Chính phủ giảm - 15,6% YTD.

NIM cải thiện, nhưng thấp hơn các ngân hàng tư nhân khác: NIM 6T2021 của MSB tăng +83 bps YoY lên 3,69%, phù hợp với xu hướng ngành. Điều này dựa trên các yếu tố sau:

• Lãi suất huy động giảm -176 bps YoY trung bình ở mức 3,59%/ năm, trong khi lãi suất cho vay giảm nhẹ hơn -66 bps YoY đạt 8,21%/ năm. Do đó, lợi suất tài sản giảm -63 bps YoY, trong khi chi phí vốn trung bình giảm -138 bps YoY. Thu nhập từ phí bán bảo hiểm trả trước lớn (2 nghìn tỷ đồng) cũng giúp giảm lãi suất huy động, mức giảm tại MSB lớn hơn các ngân hàng cấp 2 khác.

• LDR tăng: Tiền gửi khách hàng và chứng chỉ tiền gửi tăng nhẹ +0.8% YTD, thấp hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng +10% YTD. Điều này tiếp tục khiến LDR tăng lên 66,5% từ mức 62,3% trong 2020.

• CASA cải thiện: số dư CASA tăng +32% YoY, chủ yếu từ khách hàng cá nhân hiện đóng góp 45,4%. Tỷ lệ CASA tăng lên 28,2% từ 22,2% trong Q2/2020. Tương tự các ngân hàng khác, kết quả này là nhờ hoạt động số hóa và thay đổi hành vi khách hàng theo hướng sử dụng e-banking. MSB hiện có hơn 2 triệu khách hàng cá nhân, trong đó 1,1 triệu khách sử dụng ứng dụng ngân hàng số. Kể từ năm 2021, MSB áp dụng eKYC cho khách hàng doanh nghiệp, và kỳ vọng sẽ thu hút 1.000 khách hàng doanh nghiệp mới qua eKYC. Từ 2018 đến nay, số lượng giao dịch và giá trị giao dịch thanh toán qua e-banking tăng hơn gấp đôi mỗi năm.

NIM của MSB đang ở mức thấp nhất trong số các ngân hàng tư nhân (cùng với STB, SHB và LPB). Tương tự SHB và LPB, khách hàng cá nhân là nhóm đóng góp nhiều nhất vào tiền gửi khách hàng (52%), trong khi phần lớn tín dụng (52%) đến từ khách hàng doanh nghiệp lớn và trái phiếu. Trong khi vốn huy động từ khách hàng cá nhân có chi phí cao hơn khách hàng tổ chức, cho vay KH tổ chức thường có biên lợi nhuận thấp hơn KH cá nhân. Tuy nhiên, chúng tôi cũng lưu ý NIM của MSB đã tăng tốc trong 6T2021 mạnh hơn so với STB và LPB.

Nhìn chung, thu nhập lãi thuần Q2/2021 tăng 36,2% YoY lên 1,5 nghìn tỷ đồng.

Thu nhập từ phí bán bảo hiểm mạnh mẽ là động lực tăng trưởng chính:

Trong Q2/2021, MSB đã ghi nhận 1,6 nghìn tỷ đồng thu nhập từ phí, trong đó có phí bancassurance nhờ ký hợp đồng độc quyền 15 năm với Prudential trong Q1/2021. Do đó, thu nhập thuần từ phí tăng +575% YoY lên 2,2 nghìn tỷ đồng. Nếu không bao gồm khoản bất thường này, thu nhập thuần từ phí đạt 600 tỷ đồng, +83,5% YoY. Trong thu nhập từ phí, hoa hồng từ bancassurance là động lực tăng trưởng chính, đạt hơn 140 tỷ đồng, +84,1% YoY. Lũy kế 6T2021, hoa hồng từ bancassurance đạt kết quả tốt với hơn 200 tỷ đồng (+120% YoY), mặc dù chịu ảnh hưởng từ giãn cách xã hội do đại dịch. Như đã đề cập trước đây, MSB đặt kế hoạch 350 tỷ đồng thu nhập từ bancassurance trong 2021, +4,9% YoY.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối sôi động tiếp tục đạt kết quả tốt, với 97,4 tỷ đồng lãi so với lỗ trong Q2/2020. Lũy kế 6T2021, lãi kinh doanh ngoại hối đạt 200 tỷ đồng, +98% YoY. MSB có vị thế mạnh trong thị trường ngoại hối, đứng thứ 13 về giá trị giao dịch ngoại hối với khách hàng, nhờ cung cấp sản phẩm tài chính có cấu trúc dựa trên diễn biến lãi suất và ngoại tệ.

Thu nhập từ hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và thu hồi nợ xấu giảm: Mảng đầu tư và kinh doanh chứng khoán chịu lỗ -337 tỷ đồng trong Q2/2021. Ngân hàng đã phân loại 500 tỷ đồng giá trị TPDN vào nợ Nhóm 5 và trích lập dự phòng toàn bộ. Tuy nhiên, MSB đã thu hồi tài sản thế chấp theo phán quyết của Tòa án trong tháng 6 và làm thủ tục đấu giá. MSB ước tính thu hồi toàn bộ vốn và lãi trong Q4/2021, do đó hoàn nhập dự phòng đã trích trong Q2/2021.

Hoạt động thu hồi nợ xấu cũng đạt kết quả khiêm tốn trong Q2/2021 với 40 tỷ đồng (-75% YoY), do giãn cách xã hội tại nhiều địa phương trong 6T2021.

CIR tăng trở lại lên mức cao do chi phí nhân viên và chi phí quản lý: Sau khi giảm trong Q1/2021 xuống mức thấp kỷ lục 38,2%, CIR điều chỉnh (sau khi trừ các khoản bất thường) đã tăng lên 63,8% trong Q2/2021, do chi phí nhân viên và chi phí quản lý. Như đã đề cập trong báo cáo cập nhật KQKD Q1/2021, chúng tôi nhận thấy điểm bất thường trong chi phí nhân viên Q1/2021, và ước tính khoản này sẽ tăng trong các quý tới. Thực tế, chi phí nhân viên đã tăng +99% YoY trong Q2, chủ yếu do ngân hàng tăng lương định kỳ cho nhân viên. Ngoài ra, MSB tuyển thêm nhân viên mới cho các dự án CNTT, bao gồm chuyên gia cao cấp nước ngoài, khiến chi phí nhân viên 6T2021 tăng +17,8% YoY. Chi phí quản lý cũng tăng +17,1% YoY.

CIR điều chỉnh đã cải thiện trong những năm gần đây, giảm từ 64% năm 2017 còn 51,4% năm 2020. CIR 6T2021 tiếp tục giảm còn 50,4%.

Nợ xấu tiếp tục tăng, nhưng chất lượng tài sản vẫn trong tầm kiểm soát nhờ nỗ lực dự phòng: Nợ nhóm 2 tăng trong Q1/2021 chuyển thành nợ xấu trong Q2/2021. Do đó, số dư nợ xấu tăng +18,4% YTD lên 1,84 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu tăng lên 2,02% (từ 1,86% trong Q1/2021). Tuy nhiên, tỷ lệ nợ tiêu chuẩn trên tổng dư nợ cho vay tăng lên 97,1% từ 96,3% trong 2020.

Ngoài ra, tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLC) cải thiện nhẹ lên 58,5% từ 54,7% trong Q1/2021. Điều này là nhờ nỗ lực tăng dự phòng nợ xấu của ngân hàng trong 6T2021, tương ứng 609 tỷ đồng giá trị tăng ròng (+233% YoY), và xóa nợ mạnh 415 tỷ đồng bn (+41,2% YoY) trong kỳ.

Nếu không gồm dữ liệu CIC, tỷ lệ nợ xấu của MSB chỉ ở mức 1,6%, với mức cao nhất là cho vay khách hàng cá nhân (3,3%). Điều này là do nợ xấu từ FCCOM tăng, tiếp đến khách hàng SME (2,8%) và khách hàng doanh nghiệp lớn (0,95%).

Nợ tái cơ cấu ở mức 241 tỷ đồng, từ tổng dư nợ kéo theo 773 tỷ đồng, chiếm 0,84% tổng dự nợ cho vay. Các khoản nợ này thuộc ngành sản xuất, vận tải, khách sạn lưu trú và xây dựng. Ngân hàng đã trích lập dự phòng 64 tỷ đồng (30% tổng dự phòng 2021-2023) cho các khoản nợ tái cơ cấu này.

Khoản mục khác là phải thu quá hạn đạt 1,59 nghìn tỷ đồng (-7,9% YTD) cũng là một rủi ro tín dụng của MSB. Trong Q1/2021, ngân hàng đã trích lập dự phòng 586 tỷ đồng (34,2% tổng giá trị quá hạn).

Cập nhật TNEX: Sau 6 tháng đầu triển khai từ T12/2020, TNEX tập trung vào các chương trình khuyến mãi thu hút một lượng lớn học sinh, sinh viên. Tính đến cuối tháng 6/2021, TNEX đã có 52.000 khách hàng, 136.000 giao dịch với giá trị giao dịch trung bình là 71.000 đồng. Ngân hàng thu về hơn 2 tỷ đồng CASA. Ước tính và Định giá Kế hoạch của Ban lãnh đạo

• Nhu cầu tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ tại MSB: Ngân hàng Nhà nước đã nâng hạn mức tín dụng cho MSB từ đầu tháng 7, từ mức 10,5% ban đầu lên ~16%, trong nhóm cao nhất hệ thống ngân hàng sau TCB và TPB là hơn 17%. Sau đó, MSB đã tăng giải ngân vào 3 ngành chính: (i) năng lượng tái tạo (điện gió), (ii) sản xuất thiết bị y tế và (iii) théo và vật liệu khác để xuất khẩu, khi nền kinh tế Châu Âu và Mỹ bắt đầu phục hồi. Đến cuối tháng 7, tăng trưởng tín dụng đạt gần 13% YTD. MSB ước tính hạn mức tín dụng sẽ tăng thêm trong Q4/2021, do đó ngân hàng có thể tăng tín dụng lên 20% YoY trong 2021, tạo mức cơ sở cao về tài sản sinh lời cho những năm sau.

• NIM giảm dần: Lãi suất cho vay ước tính giảm thêm nữa để hỗ trợ khách hàng. Mặc dù vậy, vẫn có một số yếu tố hỗ trợ NIM bao gồm giá trị CASA và đầu tư trái phiếu dài hạn lớn, lợi suất của các khoản này không chịu ảnh hưởng bởi xu hướng giảm của thị trường (Trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của các tổ chức tín dụng chiếm 24,5% tổng tài sản tính đến tháng 6/2021, cao hơn các ngân hàng khác). MSB sẽ giảm lãi suất huy động, cũng như điều chỉnh bảng cân đối kế toán (kỳ hạn, LDR, v.v.). Do đó, NIM ước tính chỉ giảm 10-20 bps trong nửa cuối 2021.

• Bancassurance ước tính là một trong những động lực tăng trưởng thu nhập phí. Về phí bán bảo hiểm trả trước, MSB sẽ tiếp tục ghi nhận thu nhập này vào những năm tới. Chúng tôi ước tính số còn lại là 400 tỷ đồng.

• Chất lượng tài sản: Trong nửa cuối 2021, MSB có kế hoạch tái cơ cấu cho vay khách hàng trị giá 1,7 nghìn tỷ đồng, ~1,86% tổng dư nợ cho vay. Ngân hàng cũng có kế hoạch ghi nhận 103 tỷ đồng chi phí dự phòng liên quan đến các khoản vay này, tương đương 30% tổng dự phòng 2021-2023 theo Thông tư 03. Trong kịch bản cẩn trọng nhất, MSB ước tính làn sóng Covid-19 thứ 4 sẽ tăng nợ xấu thêm 148 tỷ đồng, chủ yếu từ ngành khách sạn lưu trú, khai thác và xây dựng nhà ở, v.v.

Nguồn: SSI

×
tvi logo