MSB: Giai đoạn tăng trưởng cao trở lại

MSB: Giai đoạn tăng trưởng cao trở lại

Lượt xem: 129
  •  

Tổng quan

Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam (MSB) được thành lập năm 1991 với tư cách là ngân hàng tư nhân đầu tiên ở Việt Nam. Khi mới thành lập, công ty có vốn điều lệ là 40 tỷ đồng do 25 cổ đông tổ chức góp vốn, hầu hết là các doanh nghiệp Nhà nước có vị trí chi phối trong nền kinh tế vào những ngày Mỹ còn đang cấm vận Việt Nam.

Sau khi thành lập, MSB được biết đến là một ngân hàng doanh nghiệp, với phần lớn dư nợ cho vay và tiền gửi là của khách hàng doanh nghiệp. Hiện nay, MSB là ngân hàng tư nhân tập trung vào lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, với dư nợ cho vay khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) lần lượt chiếm 30% và 46,8% tổng dư nợ trong năm 2019. Tương tự đối với tiền gửi, khách hàng cá nhân và doanh nghiệp SME lần lượt chiếm khoảng 68,5% và 19% tổng tiền gửi của khách hàng.

MSB đã trải qua giai đoạn 2012-2017 với nỗ lực xử lý nợ xấu lớn. Gần đây, công ty đã hoàn thành việc xử lý toàn bộ trái phiếu VAMC trong Q3/2020. So với các ngân hàng tư nhân Cấp 2, MSB có thế mạnh về các dịch vụ thu phí bao gồm thanh toán, tài trợ thương mại, ngoại hối, công cụ phái sinh và hiện tại đang xúc tiến bancassurance. MSB nằm trong ToP 8 ngân hàng giao dịch nhiều nhất trên thị trường trái phiếu chính phủ mặc dù thị phần tín dụng tương đối nhỏ là 0,83% trong năm 2019. Gần đây, MSB đã ra mắt TNEX, ngân hàng thuần số đầu tiên ở Việt Nam, hướng tới thị trường cấp thấp và các khách hàng chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng, khách hàng thế hệ Millennial và Gen Z, tiểu thương, và doanh nghiệp nhỏ.

Hoạt động tài chính

Lợi nhuận của MSB chịu áp lực lớn trong giai đoạn 2012-2017, vì phải thoái thu nhập lãi và MSB đã ưu tiên sự thận trọng trong viêc cho vay. Đồng thời, phần lớn PPOP được sử dụng để trích lập dự phòng. ROAE bình quân giai đoạn 2012-2017 đạt mức thấp kỷ lục là 1,7%, trước khi cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2018-9T2020 lên 11,4%.

Trong năm 2019, tổng tín dụng của MSB đạt 67,9 nghìn tỷ đồng, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) là 3,8%, trong khi tổng tiền gửi và giấy tờ có giá đạt 89,8 nghìn tỷ đồng, tương ứng với CAGR là 3,3% trong giai đoạn 2011-2019. Lợi nhuận trước thuế năm 2019 là 1,3 nghìn tỷ đồng, tương ứng với CAGR bình quân là 2,8% trong giai đoạn 2011-2019. Tỷ lệ nợ xấu bình quân trong giai đoạn 2012-2019 là khoảng 3%, cao hơn so với mức bình quân ngành.

ROAE của ngân hàng phục hồi từ năm 2018, và đạt 11,4% trong tháng 9/2020. ROAE cải thiện là kết quả của việc mở rộng cho vay và NIM cải thiện. Chi phí trích lập dự phòng cho nợ xấu giảm do trái phiếu VAMC hiện đã được xóa toàn bộ.

Ước tính và định giá

Với sự tư vấn của McKinsey, MSB đã hoàn thành việc lập kế hoạch chiến lược giai đoạn 2019-2023. MSB đặt mục tiêu nằm trong Top 10 ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu trong các hạng mục sau: vốn hóa thị trường (mục tiêu: 3,5 tỷ USD); ROE (mục tiêu: 20%); CIR (mục tiêu: 45%); tốc độ tăng trưởng bình quân CAGR của tín dụng, doanh thu và thu nhập (mục tiêu: 30%/năm); và số sản phẩm được sử dụng tối thiểu (mục tiêu: 3 sản phẩm/khách hàng).

Chúng tôi ước tính lợi nhuận trước thuế năm 2020 và 2021 của MSB lần lượt đạt 2,4 nghìn tỷ đồng (+86,3% so với cùng kỳ) và 3,13 nghìn tỷ (+30,5% so với cùng kỳ). Nhờ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ lần lượt là 30%/28% so với cùng kỳ, đồng thời NIM ước tính tăng lên 3,29%/3,35%. Chúng tôi cũng ước tính chi phí tín dụng giảm đáng kể do trái phiếu VAMC đã được xóa toàn bộ.

Trong năm 2020, chúng tôi ước tính tăng trưởng tổng tài sản, tiền gửi khách hàng và tín dụng lần lượt đạt 18,8%, 12,2% và 26,8% so với cùng kỳ. NIM ước tính cải thiện lên 3,29% từ mức 2,47% trong năm trước, trong khi NPL dự kiến giảm xuống 1,96% từ mức 2,04% trong năm 2019. Lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 2,4 nghìn tỷ đồng trong năm 2020 (+86,3% so với cùng kỳ), tương ứng ROAA và ROAE lần lượt đạt 1,12% và 11,75%.

Trong năm 2021, chúng tôi dự phóng lợi nhuận trước thuế tăng 30,5% so với cùng kỳ lên 3,13 nghìn tỷ đồng. EPS ước tính tăng mạnh từ 971 đồng trong năm 2019 lên 1.634 đồng trong năm 2020 (+68,3% so với cùng kỳ) và lên 2.123 đồng trong năm 2021 (+30% so với cùng kỳ). BVPS ở mức 16.588 đồng (+20% so với cùng kỳ) trong năm 2020 và 18.598 đồng (+12,1% so với cùng kỳ) trong năm 2021.

Nhìn chung, chúng tôi ưa thích mô hình “bank-in-bank”, các hoạt động cho vay theo khẩu vị rủi ro thấp, cách tiếp cận tích cực trên thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường ngoại hối, và đặc biệt có sự đầu tư để chuyển dịch sang mô hình ngân hàng thuần số “TNEX”. Trong tương lai, chúng tôi ước tính tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ, NIM cải thiện và chi phí dự phòng giảm mạnh do không còn trái phiếu VAMC sẽ thúc đẩy lợi nhuận trong những năm sắp tới.

Tuy nhiên, ngân hàng có một số nhược điểm cần cải thiện, bao gồm tỷ lệ đầu tư hiện tại vào lĩnh vực bất động sản và xây dựng khá lớn, tỷ lệ các khoản nợ tái cấu trúc và tỷ lệ nợ xấu cao hơn mức bình quân ngành, chưa khai thác hết mô hình kinh doanh FCCOM và hoạt động kinh doanh thẻ phát triển kém. Giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với MSB gần như đã đạt mức tối đa, đây là một điểm hạn chế khác của MSB.

Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của MSB là 20.500 đồng/cp, tương đương hệ số P/B mục tiêu năm 2021 là 1,1x. Chúng tôi đưa ra khuyến nghị KHẢ QUAN đối với cổ phiếu và triển vọng tăng giá là 18,5%.

Nguồn: SSI

×
tvi logo