HT1: Lợi nhuận chịu ảnh hưởng đáng kể từ Covid-19 trong Q3/2021 trước khi phục hồi tích cực vào năm 2022

HT1: Lợi nhuận chịu ảnh hưởng đáng kể từ Covid-19 trong Q3/2021 trước khi phục hồi tích cực vào năm 2022

Lượt xem: 37
  •  

Mặc dù HT1 đạt kết quả kinh doanh đáng khích lệ trong quý 2/2021, chúng tôi điều chỉnh giảm khuyến nghị đối với cổ phiếu từ Trung lập xuống Kém Khả quan với giá mục tiêu 1 năm là 17.600 đồng/cp, do việc tăng giá gần đây đã phản ánh thái quá về sức ảnh hưởng của đầu tư công đến triển vọng lợi nhuận của Công ty trong tương lai. Ngoài ra, chúng tôi ước tính sản lượng tiêu thụ giảm đáng kể khoảng 40% YoY trong Q3/2021 do các biện pháp giãn cách xã hội tại miền Nam, dẫn đến việc điều chỉnh dự báo doanh thu và LNTT 2021 xuống 7,6 nghìn tỷ đồng (-4,4% YoY) và 728 tỷ đồng (-5,1% YoY). Mặc dù vậy, do ước tính lợi nhuận của HT1 tăng trưởng mạnh 21% YoY trong 2022 nhờ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ 11% và chi phí lãi vay giảm, nhà đầu tư có thể xem xét quay lại cổ phiếu trong tương lai khi giá cổ phiếu ở mức hấp dẫn hơn.

Trong Q2/2021, doanh thu và LNTT đã tăng 11,1% và 16% YoY, đạt 2,3 nghìn tỷ đồng và 299 tỷ đồng do tăng trưởng sản lượng tiêu thụ 8,5% YoY, cùng với chi phí khấu hao và chi phí lãi vay giảm. Lũy kế 6T2021, LNTT tăng 7,3% đạt 426 tỷ đồng, hoàn thành 52% kế hoạch năm.

Sản lượng tiêu thụ Q2/2021 duy trì tăng trưởng tích cực 8,5% YoY đạt 1,9 triệu tấn, tiếp tục tăng trưởng vượt trội so với ngành. Lũy kế 6T2021, sản lượng tiêu thụ tăng 8,2% YoY đạt 3,4 triệu tấn so với tăng trưởng thị trường trong nước là ~4%. Điều này một phần nhờ chính sách giá linh hoạt của công ty, cũng như hệ thống phân phối rộng khắp giúp sản phẩm dễ dàng tiếp cận hơn so với các thương hiệu khác.

Biên lợi nhuận gộp hồi phục nhờ chi phí khấu hao giảm: Biên lợi nhuận gộp Q2/2021 là 19,4%, giảm nhẹ so với mức cao trong Q2/2020 là 20,6%, nhưng tăng so với trung bình 3 quý gần nhất là 14,8% do sản lượng tiêu thụ tăng và giá xi măng tăng 2% so với giữa tháng 5. Ngoài ra, chi phí khấu hao giảm 16% YoY (tương đương 30 tỷ đồng) hỗ trợ biên lợi nhuận của công ty.

Chi phí lãi vay tiếp tục giảm: Chi phí lãi vay Q2/2021 giảm -36% YoY ở mức 29 tỷ đồng do tổng dư nợ giảm -16% QoQ và -28% YoY ở mức 1,9 nghìn tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ/ vốn CSH là 0,34x.

Cập nhật sản lượng xuất khẩu xi măng của Việt Nam: duy trì tăng trưởng mạnh so với mức cơ sở thấp trong 6T2020, nhưng có dấu hiệu giảm: Tổng xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam trong 6T2021 đạt 20,9 triệu tấn, duy trì tăng trưởng mạnh 27% YoY so với mức cơ sở thấp trong 6T2020 và nhu cầu từ Trung Quốc, Philippines và Bangladesh, trong đó thị trường Trung Quốc chiếm gần 50% tổng sản lượng xuất khẩu. Tăng trưởng xuất khẩu mạnh giúp làm giảm áp lực cạnh tranh trong nước. Tuy nhiên, chúng tôi lưu ý rằng tăng trưởng xuất khẩu hàng quý có xu hướng giảm, với sản lượng Q2/2021 ở mức 20,2 triệu tấn, giảm -3,6% QoQ và chỉ tăng 17% so với cùng kỳ so với mức tăng 37% YoY trong Q1/2021. Điều này có thể do tình trạng tắc nghẽn cảng toàn cầu (đặc biệt tại Trung Quốc) và cước vận chuyển tăng.

Điều chỉnh giảm lợi nhuận 2021 do tác động của Covid-19:

Mặc dù đầu tư công hỗ trợ nhu cầu xi măng, chúng tôi ước tính sản lượng của HT1 có thể giảm khoảng -40% YoY trong Q3/2021 do tăng cường các biện pháp giãn cách xã hội tại miền Nam từ đầu tháng 7.

Theo đó, chúng tôi giảm 10% ước tính sản lượng tiêu thụ 2021 từ 7,1 triệu tấn còn 6,4 triệu tấn, tương ứng -4% YoY. Theo đó, doanh thu và LNTT 2021 giảm còn 7,6 nghìn tỷ đồng (-4,4% YoY) và 728 tỷ đồng (-5,1% YoY). Biên lợi nhuận ròng 2021 là 7,7% thấp hơn 6T2021 là 8,4%, do sản lượng tiêu thụ giảm và giá than tăng ~10% từ tháng 8 theo đà biến động giá thế giới. Mặc dù vậy, chúng tôi ước tính KQKD sẽ hồi phục trong 2022, với sản lượng tiêu thụ đạt 7,7 triệu tấn (+11% YoY). Doanh thu và LNTT do đó tăng 12,2% và 21% YoY, tương ứng đạt 8,5 nghìn tỷ đồng và 880 tỷ đồng.

Định giá và Luận điểm đầu tư

HT1 đang giao dịch tại PE 2021 và 2022 là 15,4x và 12,7x, cao hơn nhiều so với mức trung bình lịch sử 5 năm là 9x. Sử dụng PE và EV/EBITDA mục tiêu không đổi là 10x và 5x, giá mục tiêu 1 năm của chúng tôi là 17.600 đồng/cp (trước đây là 16.400 đồng/cp) dựa trên ước tính lợi nhuận 2022 (từ lợi nhuận 2021). Chúng tôi cho rằng giá cổ phiếu tăng gần đây đã phản ánh cao về tiềm năng ảnh hưởng từ đầu tư cơ sở hạ tầng vào lợi nhuận trong tương lai. Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm khuyến nghị từ Trung lập xuống Kém khả quan. Do lợi nhuận ước tính phục hồi tích cực năm 2022, nhà đầu tư có thể chốt lời ngắn hạn và xem xét quay lại cổ phiếu khi giá được chiết khấu về mức hấp dẫn hơn.

Nguồn: SSI

×
tvi logo