HT1: Kỳ lân xanh vươn mình

HT1: Kỳ lân xanh vươn mình

Lượt xem: 89
  •  

ĐỊNH GIÁ

BSC khuyến nghị MUA cổ phiếu HT1 với giá mục tiêu năm 2021 là 19,750 đồng/CP dựa trên kết hợp phương pháp so sánh P/E và EV/EBITDA (tỷ trọng 50:50)

DỰ BÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

BSC điểu chỉnh giảm 24% dự báo LN 2020 của HT1 so dự báo trong báo cáo ngành hồi đầu năm về 622 tỷ (-16% YoY) bởi tình tình tiêu thụ của công ty năm 2020 kém khả quan do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Chúng tôi cho rằng HT1 sẽ ghi nhận tăng trưởng mạnh 34% về lợi nhuận trong năm 2021 với động lực từ nhu cầu hồi phục, đầu tư công và việc công ty hoàn trả hết nợ vay ngoại tệ. Dự báo doanh thu 2021 đạt 9,015 tỷ (+13% YoY), LNST 837 tỷ (+34.5% YoY), tương đương với EPS = 1,974 đồng/CP.

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ

(1) Tiêu thụ xi măng toàn ngành dự báo sẽ tăng trưởng tốt trong năm 2021 nhờ đầu tư công và xuất khẩu sang Trung Quốc (

2) Vị thế vững chắc và việc đầu tư tăng công suất nghiền xi măng thêm 14% (2022F) giúp HT1 hưởng lợi từ tăng trưởng nhu cầu toàn ngành

RỦI RO ĐẦU TƯ

(1) Rủi ro biến động giá nguyên vật liệu (than, điện…)

(2) Rủi ro gia tăng công suất của các DN trong ngành làm trầm trọng tình trạng dư cung hiện tại

CẬP NHẬT KẾT QUẢ KINH DOANH 9T2020

(1) Kết quả 9T2020 thấp hơn dự báo trước đó của chúng tôi do (1) sản lượng giảm do ảnh hưởng của mùa mưa và xâm nhập mặn ở miền Nam và (2) lỗ tỷ giá từ khoản vay EUR. Lũy kế 9T, doanh thu 6,086 tỷ (-12% YoY), LNST 461.7 tỷ (-12.7% YoY), tương đương hoàn thành 72.5% và 70.4% kế hoạch năm.

(2) HT1 dự kiến chi 420 tỷ đồng cổ tức năm 2019 (tỷ lệ 12%) trong T12/2020

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ

Luận điểm 1: Tiêu thụ xi măng toàn ngành dự báo sẽ bật tăng lại trong năm 2021 sau năm 2020 ảm đạm bởi dịch bệnh và diễn biến thời tiết không thuận lợi

Tác động lan tỏa của đầu tư công làm tăng nhu cầu xi măng nội địa

Đầu tư công là tiền đề quan trọng kích thích các nguồn lực của khối tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài, từ đó đẩy mạnh vốn đầu tư toàn xã hội, kích thích nhu cầu xây dựng. Nhìn lại giai đoạn năm 2012 khi vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng trưởng mạnh

Xi măng là vật liệu xây dựng thiết yếu nên tiêu thụ phản ánh ngay tăng trưởng hoạt động xây dựng. Do đó, tiêu thụ xi măng nội địa sẽ hồi phục trong nửa cuối Q4/2020 khi (1) nhiều công trình đầu tư công bắt đầu thi công và (2) nhu cầu tái thiết mạnh sau mùa mưa bão tại một số địa phương. Tăng trưởng sẽ rõ rệt hơn từ năm 2021 trở đi khi nhu cầu xây dựng dân dụng và công nghiệp tăng nhanh nhờ cơ sở hạ tầng được cải thiện mạnh ở nhiều địa phương. Các dự án đầu tư công trọng điểm như cải tạo, mở rộng cao tốc Bắc – Nam, xây dựng các tuyến đường kết nối, liên tỉnh, sân bay,…sẽ cải thiện chất lượng logistics của Việt Nam, thúc đẩy kết nối liên vùng. Làn sóng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang các quốc gia lân cận sau dịch sẽ thu hút lượng lớn vốn FDI và hỗ trợ xây dựng công nghiệp.

Xuất khẩu bật tăng nhờ nhu cầu xây dựng hồi phục tại các nước sau dịch, đặc biệt là Trung Quốc

Sản lượng xuất khẩu clinker và xi măng của Việt Nam bật tăng từ T7/2020 do xuất khẩu sang Trung Quốc tăng. Hoạt động xây dựng hạ tầng ở Trung Quốc tăng mạnh nhờ chính sách kích thích đầu tư sau khi mở cửa lại nền kinh tế làm gia tăng mạnh nhu cầu đối với các loại vật liệu xây dựng. Trong khi đó, sản xuất nội địa chưa thể tăng bắt kịp nhu cầu đã khiến Trung Quốc phải nhập khẩu lượng lớn các sản phẩm thép, xi măng. Với vị trí địa giáp với Trung Quốc và hệ thống vận tải biển thuận lợi, Việt Nam đã tận dụng tốt lợi thế để tăng xuất khẩu xi măng và clinker, giảm bớt tình trạng dư thừa tại thị trường nội địa.

BSC đánh giá nhu cầu nhập khẩu xi măng của Trung Quốc sẽ giữ ở mức cao tương đương T8-T9/2020 cho đến đầu năm 2021. Xuất khẩu xi măng sang Trung Quốc sẽ giúp giảm bớt cạnh tranh tại thị trường nội địa, đặc biệt đối với các DN xi măng khu vực phía Bắc và Bắc miền Trung.

Luận điểm 2: Vị thế vững chắc và việc đầu tư tăng công suất thêm 25% (2022F) giúp HT1 hưởng lợi từ tăng trưởng nhu cầu toàn ngành

HT1 duy trì thị phần dẫn đầu trên 30% tại thị trường miền Nam nhờ

 Hệ thống 2 nhà máy và 5 trạm nghiền phân bổ rộng tại các tỉnh thành phía Nam giúp HT1 có thể tiếp cận nhiều thị trường tiêu thụ. Do khoảng cách vận chuyển tối ưu của xi măng và clinker bằng đường bộ khoảng 70-80km nên việc phân bố các trạm nghiền tại nhiều tỉnh thành sẽ giúp công ty mở rộng được hệ thống đại lý và địa bàn tiêu thụ. Bên cạnh đó, các trạm nghiền của HT1 cũng thuận lợi cho vận tải thủy bằng xà lan với chi phí vận chuyển thấp hơn đường bộ.

 Thương hiệu mạnh và lâu đời, sản phẩm chất lượng cao, được người tiêu dùng tin tưởng.

HT1 có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực nghiền xi măng tại NM Kiên Lương thêm 1 triệu tấn/năm (+14%). BSC dự báo dự án có thể được triển khai trong giai đoạn 2021-2022 nhằm bắt kịp với tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ. Đầu tư công và tác động lan tỏa đến các hoạt động xây dựng hạ tầng và dân dụng được dự báo sẽ là động lực tăng trưởng cho nhu cầu xi măng trong giai đoạn tới.

CẬP NHẬT DOANH NGHIỆP

(1) Kết quả kinh doanh 2020 kém khả quan do ảnh hưởng của dịch bệnh và tình hình thời tiết không thuận lợi, tạo nền thấp cho tăng trưởng mạnh năm 2021. Kết quả 9T2020 thấp hơn dự báo trước đó của chúng tôi do (1) sản lượng giảm do ảnh hưởng của mùa mưa và xâm nhập mặn ở miền Nam và (2) lỗ tỷ giá từ khoản vay EUR. Lũy kế 9T, doanh thu 6,086 tỷ (-12% YoY), LNST 461.7 tỷ (-12.7% YoY), tương đương hoàn thành 72.5% và 70.4% kế hoạch năm.

 Sản lượng tiêu thụ 9T2020 đạt 4.77 triệu tấn xi măng (-11.7% YoY) và 350 nghìn tấn clinker (+16.7% YoY), tương đương hoàn thành 65% kế hoạch năm. Tiêu thụ mặc dù hồi phục trong T7 và T8 nhưng lại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi mùa mưa trong T9.

 Biên LNG tăng từ 17.1% (9T2019) lên 18.2% trong 9T2020 nhờ giá than bình quân (~30% giá vốn) -10% YoY và giá điện (~15% giá vốn) giảm 10% trong Q2/2020.

 Khoản vay ngoại tệ giúp công ty hưởng lãi suất thấp (~0%) nhưng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá. 9T2020 HT1 ghi nhận (1) lỗ tỷ giá 4.7 tỷ trong khi cùng kỳ lãi 30.8 tỷ (tỷ giá EUR/VND +5.7% kể từ đầu năm), (2) CP lãi vay giảm 34 tỷ (-19% YoY) nhờ tổng dư nợ vay bình quân -20% YoY, lãi suất vay ngoại tệ EUR ~ 0% do lãi suất tham chiếu EURIBOR < 0%. Theo kế hoạch, công ty sẽ hoàn trả hết các khoản vay này trong 1H2021.

(2) HT1 dự kiến chi 420 tỷ đồng cổ tức năm 2019 (tỷ lệ 12%) trong T12/2020. HT1 duy trì tỷ lệ trả cổ tức tương đối ổn định 10-15% tiền mặt kể từ năm 2017, tương đương tỷ suất cổ tức khoảng 10%. BSC cho rằng với vị thế là đơn vị hoạt động hiệu quả nhất trong nhóm Vicem, HT1 có áp lực trả cổ tức từ công ty mẹ. Chúng tôi đánh giá với nhu cầu vốn đầu tư cho dự án trạm nghiền mới ước khoảng 400 tỷ sẽ giải ngân trong 2021-2022 so với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty khoảng 1,000 tỷ/năm, HT1 có khả năng duy trì cổ tức tiền trong những năm tới mặc dù tỷ lệ có thể giảm trong giai đoạn đầu tư.

DỰ BÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

BSC điểu chỉnh giảm 24% dự báo LN 2020 của HT1 so dự báo trong báo cáo ngành hồi đầu năm. BSC đánh giá sản lượng tiêu thụ của HT1 sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng của mùa mưa trong phần lớn Q4/2020 và chỉ có thể hồi phục từ cuối Q4/2020 đầu 2021 khi các dự án đầu tư công và xây dựng dân dụng triển khai mạnh. Cụ thể doanh thu dự báo 7,993 tỷ (- 9.6% YoY) tương ứng với sản lượng xi măng là 6.8 triệu tấn (-7% YoY) và clinker 490 nghìn tấn (+5% YoY). LNST 2020F là 622 tỷ (-16% YoY), tương đương với EPS = 1,631 đồng/CP.

Chúng tôi cho rằng HT1 sẽ ghi nhận tăng trưởng mạnh 34% về lợi nhuận trong năm 2021 với động lực từ (1) sản lượng tiêu thụ +10% YoY; (2) giá bán và giá than tăng về mức tương đương 2019 và (3) HT1 trả hết nợ vay ngoại tệ, không phải chịu rủi ro tỷ giá. Dự báo doanh thu 2021 đạt 9,015 tỷ (+13% YoY), LNST 837 tỷ (+34.5% YoY), tương đương với EPS = 1,974 đồng/CP.

ĐỊNH GIÁ

Chúng tôi sử dụng kết hợp 2 phương pháp P/E và EV/EBITDA để định giá cổ phiếu HT1 cho năm 2021

Nguồn: BSC

×
tvi logo