HDB: Cơ cấu thu nhập tiếp tục được đa dạng hóa

HDB: Cơ cấu thu nhập tiếp tục được đa dạng hóa

Lượt xem: 84
  •  

Chúng tôi khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu HDB với giá mục tiêu 1 năm là 40.000 đồng/cp (từ 34.000 đồng/cp), tiềm năng tăng giá 14,6%. Mặc dù hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu được cấp tương đối thấp, HDB vẫn ghi nhận kết quả khá tốt với lợi nhuận trước thuế đạt 2 nghìn tỷ đồng (+26,3% so với cùng kỳ) trong Q2/2021. Lũy kế 6T2021, LNTT đạt 4,2 nghìn tỷ đồng (+44,2% so với cùng kỳ), hoàn thành 56% dự báo của chúng tôi. Kết quả này là nhờ việc cơ cấu lại danh mục cho vay theo hướng tăng giải ngân đối với khách hàng cá nhân để có lợi suất bình quân cao hơn và dịch vụ thu phí đạt kết quả xuất sắc (+89,2% so với cùng kỳ). Chất lượng tài sản cải thiện, với nợ xấu và nợ tái cơ cấu đều giảm so với quý trước đạt lần lượt 2,3 nghìn tỷ đồng (-18% so với quý trước) và 989 tỷ đồng (-78% so với quý trước).

Chúng tôi lo ngại về khả năng giảm chi phí vốn của HDB so với các ngân hàng cùng hệ thống. Chi phí vốn trung bình của HDB trong Q2/2021 là 4,25% (+15 bps QoQ và -82 bps YoY), cao hơn trung bình toàn hệ thống là 3,4%. Nếu HDB được nới mức trần tăng trưởng tín dụng vào nửa cuối 2021, ngân hàng có khả năng tăng NIM do LDR hiện tại (68% so với mức trần 85%) và tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn (22% so với mức trần 37% từ tháng 10/2021) hiện vẫn còn ở mức thấp. Chúng tôi ước tính lợi nhuận 2021 và 2022 của ngân hàng lần lượt là 7,8 nghìn tỷ đồng (+33% YoY) và 9,4 nghìn tỷ đồng (+21% YoY).

Yếu tố tác động tăng đến khuyến nghị: Hạn mức tăng trưởng tín dụng bổ sung trong nửa cuối 2021 cao hơn ước tính.

Yếu tố tác động giảm đến khuyến nghị: Nợ xấu mới hình thành cao hơn ước tính, đặc biệt là mảng tài chính tiêu dùng, do làn sóng bùng phát Covid-19 lần thứ 4; cho vay ngành hàng không (0,7% tổng dư nợ cho vay) và một phần lớn cho vay mảng năng lượng tái tạo (7% tổng dư nợ cho vay).

Kết quả kinh doanh của HDB

Huy động tiếp tục vượt tín dụng, tạo áp lực lên NIM. Năm 2020, tăng trưởng huy động của HDB gần gấp đôi tăng trưởng tín dụng (38,4% so với 21%). Điều này tiếp diễn trong 6T2021, với tăng trưởng huy động +11% YTD so với tăng trưởng tín dụng +5,8% YTD. Nếu không tính trái phiếu cấp 2, tăng trưởng huy động 2020 và 6T2021 vẫn ở mức cao 35,7% và 10,4% YTD. Để đạt kết quả này, HDB đã duy trì lãi suất huy động ở mức cao so với các ngân hàng khác (cao hơn 116 bps so với các ngân hàng TMCP tư nhân nhỏ và 184 bps so với các ngân hàng TMCP tư nhân lớn). Theo đó, tăng trưởng tiền gửi có kỳ hạn đã vượt CASA (+16% YTD và -6% YTD), và chi phí vốn trung bình của HDB trong Q2/2021 là 4,25% (+15 bps YTD và -82 bps YTD), cao hơn các ngân hàng khác là 3,4%.

Sau nhiều năm LDR ở mức cao, ngân hàng bắt đầu tập trung thu hút tiền gửi từ năm 2020 để đưa chỉ số này về mức an toàn hơn. Tuy nhiên, tăng trưởng huy động ở mức cao trong 6T2021 (ngay cả trong bối cảnh hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu thấp và các chỉ tiêu thanh khoản ở mức hợp lý) khiến chúng tôi có chút băn khoăn.

Theo quan điểm của chúng tôi, LDR (68% so với mức trần 85%) và tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn (23% so với mức trần 37% từ tháng 10/2021) đang ở mức thấp không cần thiết. Chúng tôi cho rằng HDB có thể lên kế hoạch cho vay một số dự án lớn dài hạn trong nửa cuối 2021 khi hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới và do đó, có thể huy động trước nguồn vốn trung dài hạn để chuẩn bị cho điều này.

Thay đổi cơ cấu giải ngân mới, tăng tỷ trọng tài sản có lợi suất cao hơn. Với hạn mức tăng trưởng tín dụng ban đầu hạn chế là khoảng 6,5% và tăng trưởng tín dụng tại thời điểm cuối Q1/2021 là 5,18% YTD, HDB còn rất ít dư địa trong Q2/2021. Do đó, ngân hàng chọn cách tăng tỷ trọng cho vay bán lẻ (+18% YTD), thường có lợi suất cao hơn 150 bps – 200 bps so với cho vay khách hành doanh nghiệp (+1,2% YTD) để tối ưu lợi suất cho vay bình quân. Giải ngân mới đến từ cho vay mua nhà (+3,3 nghìn tỷ đồng hay +13,8% YTD), cho vay hộ kinh doanh (5,6 nghìn tỷ đồng hay 23,8% YTD) và cho vay nông nghiệp (3,6 nghìn tỷ đồng hay +21,8% YTD). Theo đó, tỷ trọng cho vay bán lẻ trên tổng dư nợ cho vay tăng từ 41,6% trong Q1/2021 lên 45% trong Q2/2021.

Trong khi đó, tài chính tiêu dùng giảm tốc trong Q2/2021 (-3,1% QoQ và +1,1% YTD) khi cho vay mua xe máy và hàng điện máy giảm -12% và -3% QoQ. Tỷ trọng cho vay tiền mặt trên tổng dư nợ cho vay tăng lên 45% (so với 42% trong Q1/2021).

HDB đã được thông qua việc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng trong tháng 7 và có thể xin thêm hạn mức trong Q3/2021. Do đó, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng sẽ được thúc đẩy trong Q4/2021.

NIM tăng 7 bps so với quý trước nhưng giảm 45 bps so với cùng kỳ đạt 4,49%. Do cho vay bán lẻ tăng, lợi suất tài sản trung bình là 8,54% trong Q2/2021 (+20 bps QoQ và -112 bps YoY). Điều này chưa thể bù đắp hết cho chi phí vốn tương đối cao, khiến NIM giảm còn 4,49%. Do đó, thu nhập lãi thuần tăng trưởng thấp hơn các ngân hàng cùng hệ thống là +24,8% YoY, đạt 3,5 nghìn tỷ đồng.

Dịch vụ thu phí tiếp tục đạt kết quả tốt. Thu nhập từ dịch vụ phí đạt tăng trưởng ấn tượng trong bốn quý liên tiếp vừa qua, với mức tăng trên 98% YoY. Trong Q2/2021, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 544 tỷ đồng, tăng 283% YoY và 74% so với quý trước xuất phát từ tất cả cấu thành. Tỷ lệ lãi thuần từ hoạt động dịch vụ / tổng thu nhập hoạt động tăng lên 13% (so với 4% trong Q2/2020). Thu nhập từ dịch vụ thanh toán đạt kết quả ấn tượng 190 tỷ đồng (+111% QoQ), do số lượng khách hàng e-banking tăng gần 60% YoY và giá trị giao dịch tăng gấp ba lần. Hoa hồng từ dịch vụ bảo hiểm đạt 352 tỷ đồng (+49% QoQ). Hoạt động bán bảo hiểm có thể chịu ảnh hưởng từ làn sóng Covid thứ tư từ Q3/2021 với biện pháp giãn cách xã hội diễn ra tại nhiều tỉnh. Tuy nhiên, Q3 thường là mùa thấp điểm cho hoạt động bán bảo hiểm và chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng có thể phục hồi trong Q4/2021.

Chất lượng tài sản cải thiện. Các chỉ số về chất lượng tài sản tại HDB đáng khích lệ với nợ Nhóm 2 ổn định ở mức 2,5 nghìn tỷ đồng (+3% QoQ), trong khi nợ xấu giảm còn 2,3 nghìn tỷ đồng (-18% QoQ) và nợ tái cơ cấu giảm còn 989 tỷ đồng (-78% QoQ). Tổng dự phòng tăng lên 2 nghìn tỷ đồng sau khi ngân hàng xóa 373 tỷ đồng nợ xấu, đồng thời trích lập dự phòng thêm 478 tỷ đồng. Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu là 87,9% (so với 68,6% trong Q1/2021). Xét riêng theo đơn vị, tỷ lệ nợ xấu và dự phòng bao nợ xấu là 0,84% và 106,5% tại ngân hàng mẹ và 5,84% và 54,8% tại HDSaison.

Ước tính và khuyến nghị

Kịch bản cơ sở của chúng tôi là làn sóng bùng phát Covid-19 sẽ được kiểm soát vào cuối tháng 8 và toàn dân sẽ được tiêm chủng đầy đủ trong Q2/2022. Theo kịch bản này, chúng tôi tăng ước tính lợi nhuận 2021 và 2022 cho HDB lên 7,8 nghìn tỷ đồng (+33% YoY) và 9,4 nghìn tỷ đồng (+21% YoY). Chi tiết điều chỉnh giả định sẽ có tại bảng dưới đây.

Chúng tôi ước tính đà tăng cho vay bán lẻ sẽ có thể giảm bớt phần nào tác động từ việc giảm lãi suất cho vay. Ngoài ra, trước đây, chúng tôi cũng đã cẩn trọng giả định NIM ở mức tương đối thấp (4,32% so với 4,47% trong 6T2021) do cho rằng HDB sẽ chủ động giảm lãi suất cho vay nên không thực hiện điều chỉnh giả định NIM. Việc giảm NIM sẽ được bù đắp thông qua tăng quy mô tăng trưởng tín dụng.

Theo ước tính mới của chúng tôi, ROE 2021 và 2022 sẽ đạt 21,9% và 21,3%. Chúng tôi nâng giá mục tiêu 1 năm lên 40.000 đồng/cp (từ 34.000 đồng/cp), tiềm năng tăng giá 14,6%. Do đó, chúng tôi khuyến nghị Trung lập đối với cổ phiếu HDB

Nguồn: SSI

×
tvi logo