Dự thảo sửa đổi Luật bảo hiểm

Dự thảo sửa đổi Luật bảo hiểm

Lượt xem: 25
  •  

Dự thảo sửa đổi được đưa ra lần đầu vào khoảng tháng 02/2021 để tiếp nhận các góp ý từ các chuyên gia cũng như các DNBH trên thị trường. Dự kiến Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi có thể được ban hành trong khoảng 5 năm tới.

Hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý Dự thảo Luật bảo hiểm được đưa ra trong bối cảnh: 1) Quy mô thị trường bảo hiểm ngày càng lớn, thể hiện vai trò trong nền kinh tế - xã hội, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. 2) Sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng dành cho nhiều loại tài sản cũng như nhiều ngành kinh tế, giúp bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư. 3) Luật bảo hiểm hiện hành đã ra đời từ năm 2000, có sửa đổi ở những năm 2010, 2019 tuy nhiên vẫn được đánh giá chưa phù hợp với môi trường hiện tại, còn tồn tại nhiều bất cập.

Về cơ bản, Dự thảo Luật bảo hiểm hướng tới mục tiêu: 1) Cải thiện các bất cập còn tồn tại ở bộ Luật hiện tại, hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm. 2) Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và quản lý, coi trọng phát triển cả về quy mô và chất lượng.

Thúc đẩy sự phát triển thị trường bảo hiểm

Một số điểm thay đổi chúng tôi đánh giá quan trọng, thúc đẩy sự thay đổi của ngành bảo hiểm như: 1) Tăng cường trao quyền cho các DNBH: Tôn trọng sự thỏa thuận của các đối tác tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm. Các DNBH được tự chủ hơn trong nghiệp vụ như thiết kế sản phẩm mới. a) Chuyển đổi quy định đơn lẻ về chế độ tài chính theo Biên khả năng thanh toán 1 sang mô hình tổng thể gồm ba trụ cột chính là a) Quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, b) Vốn trên cơ sở rủi ro và c) Công khai thông tin. 3) DNBH có nhiều lựa chọn hơn trong phương án đầu tư với việc áp dụng danh sách loại trừ thay vì danh mục đầu tư cho phép, có thể đầu tư nước ngoài và 4) Khuyến khích việc áp dụng CNTT vào vận hành, cũng như sự phát triển của cách doanh nghiệp bảo hiểm công nghệ (InsurTech) trên thị trường.

Nền tảng vững chắc cho triển vọng phát triển tích cực

Chúng tôi đánh giá Dự thảo Luật sẽ mang đến nền tảng vững chắc cho triển vọng phát triển tích cực của ngành bảo hiểm trong dài hạn. Điều này sẽ đòi hỏi các DNBH đầu tư hơn vào quy trình nội bộ, nguồn nhân lực cũng như nguồn vốn để có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo Luật. Thêm vào đó, Dự thảo cũng được công bố khá sớm để các DNBH có đủ khoảng thời gian để chuẩn bị và có những phản hồi về phương hướng phát triển của ngành.

I. Vai trò của Nhà nước và nguyên tắc cơ bản

- Từ trước đến nay, Nhà nước đóng vai trò cung cấp vốn, nguồn lực và các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước đóng vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm. Nhưng với Dự thảo sửa đổi, Nhà nước không đề cao mục tiêu này mà sẽ tập trung vào việc khuyến khích, tạo môi trường công khai, minh bạch để doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm. Điểm này cũng phù hợp với các kế hoạch thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp bảo hiểm và thúc đẩy kế hoạch hợp tác với các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Thông qua đó, thổi một luồng gió mới về chuyên môn, sản phẩm và cách tiếp cận vào thị trường bảo hiểm trong nước.

- Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có quyền tự chủ hơn và sẽ tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động kinh doanh, thông qua các điểm mới trong việc tự tạo sản phẩm và đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính.

II. Quy định về Hợp đồng bảo hiểm

- Dự thảo hoàn thiện các nội dung hợp đồng bảo hiểm đồng thời đảm bảo phù hợp với Bộ Luật dân sự, tôn trọng quyền tự thỏa thuận giữa các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm. Một số điểm thay đổi đáng lưu ý:

III. Quy định về Doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm

Các quy định về Doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm được bổ sung và làm rõ. Trong đó mở rộng nội dung hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, nâng cao tiêu chuẩn thành lập các DNBH mới. Ngoài ra, thêm mới ở nhiều mục với tiêu chí nâng cao đảm bảo tài chính ở các DNBH: Kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, áp dụng khung tỷ lệ an toàn vốn mới và các biện pháp xử lý tương ứng, yêu cầu về công bố thông tin minh bạch. Đặc biệt, tại Dự thảo Luật đưa ra các quy định khung đối với việc kinh doanh bảo hiểm qua môi trường mạng và các yêu cầu cần phải chấp hành, hướng tới việc thúc đẩy phát triển xu hướng kinh doanh bảo hiểm số. Chi tiết điểm thay đổi đáng lưu ý:

IV. Quy định về Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo

Các dự thảo thay đổi về Tài chính thu hút được nhiều sự quan tâm, khi có những thay đổi đáng kể. Bên dưới là những thay đổi chúng tôi đánh giá có sự tác động đến hoạt động của các DNBH:

1) Quy định về vốn: DNBH sẽ đảm bảo các loại vốn như sau:

• Vốn pháp định

• Vốn điều lệ

• Vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn điều lệ

• Vốn thực có, bao gồm vốn chủ sở hữu, và phần vốn dự phòng vượt quá dự phòng tối thiểu dựa theo các các nhóm rủi ro bao gồm:

o Rủi ro từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm o Rủi ro từ hoạt động đầu tư o Rủi to từ hoạt động điều hành chung

o Rủi ro khác

- Việc bổ sung phần vốn dựa theo các nhóm rủi ro, phản ánh quy mô và mức độ rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm đang sở hữu. Điểm này giúp nâng cao an toàn tài chính, phòng ngừa các rủi ro lớn, tuy nhiên sẽ đòi hỏi doanh nghiệp cần chuẩn bị nguồn vốn lớn hơn để có thể tiếp nhận các rủi ro lớn hơn và rộng hơn.

2) Quy định về Dự phòng nghiệp vụ: Giữ nguyên định nghĩa và nguyên tắc cơ bản, nhưng yêu cầu cao hơn như sau:

• Tách biệt dự phòng theo lãnh thổ (Việt Nam và ngoài Việt Nam), kể cả trong cùng một nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm

• Tách biệt tài sản tương ứng dự phòng tương ứng

• Phải sử dụng chuyên gia tính toán đáp ứng tiêu chuẩn để tính toán, trích lập dự phòng nghiệp vụ

• Phải thường xuyên rà soát, đánh giá việc trích lập dự phòng

- Với các quy định mới, có thể thấy Nhà nước mong muốn các DNBH tập trung hơn về việc tính toán Dự phòng nghiệp vụ một cách bài bản, khi yêu cầu chuyên gia tính toán đủ tiêu chuẩn thực hiệp công việc, minh bạch hơn khi phân chia dự phòng theo lãnh thổ cũng như thông tin về các tài sản dự phòng tương ứng cho các nghiệp vụ.

3) Quy định về Đầu tư:

- Nguồn vốn đầu tư vẫn quy định như cũ, bao gồm:

• Vốn chủ sở hữu

• Vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ

- Điểm đáng chú ý: Với các hoạt động đầu tư, Dự thảo lần này thay đổi từ Danh mục các lĩnh vực được đầu tư sang quy định các hoạt động đầu tư bị hạn chế. Danh mục giới hạn bao gồm:

• Vay để đầu tư chứng khoán, bất động sản, góp vốn vào doanh nghiệp

• Đầu tư bất động sản, trừ trường hợp làm trụ sở kinh doanh/cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết/xử lý trái phiếu đảm bảo bằng bất động sản

• Cho vay

• Đầu tư vào kim loại quý, quỹ thành viên

• Đầu tư vào tài sản cố định vô hình

• Đầu tư chứng khoán phái sinh, trừ mục đích phòng ngừa rủi ro.

- Hiện tại, danh mục đầu tư được cho phép khá hạn chế và chủ yếu là tập trung vào các công cụ tài chính với mức sinh lời ổn định, bao gồm:

• Trái phiếu chính phủ

• Chứng chỉ tiền gửi

• Cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ, góp vốn vào các doanh nghiệp (Giới hạn tối đa từ 20-35% vốn nhàn rỗi, tùy loại hình DNBH)

• Kinh doanh bất động sản (Giới hạn tối đa từ 10-20% vốn nhàn rỗi, tùy loại hình DNBH)

Nguồn: KIS 

×
tvi logo