CTG: Chi phí dự phòng tăng khiến lợi nhuận giảm

CTG: Chi phí dự phòng tăng khiến lợi nhuận giảm

Lượt xem: 92
  •  

Luận điểm đầu tư

• Lợi nhuận trước thuế của CTG trong Q2/2021 giảm (2,8 nghìn tỷ đồng, -37.8% YoY) đối lập với kết quả ấn tượng trong Q1/2021 (8,1 nghìn tỷ đồng, +171% YoY). Mặc dù lợi nhuận trước dự phòng (PPOP) Q2/2021 tăng +47.9% YoY lên mức kỷ lục 9,9 nghìn tỷ đồng, ngân hàng đã chủ động tăng trích lập dự phòng nợ xấu mạnh ở mức 7,1 nghìn tỷ đồng (+222% YoY, +426% QoQ) cho Q1/2021. Lũy kế 6T2021, LNTT đạt 10,9 nghìn tỷ đồng (+45,4% YoY), tương ứng hoàn thành 50% dự báo ban đầu của chúng tôi về mảng kinh doanh chính (không bao gồm thu nhập từ phí bancassurance).

• Do đại dịch bùng phát, CTG đã công bố gói hỗ trợ tín dụng khách hàng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19. Gói hỗ trợ bắt đầu từ ngày 15/7/2021 và CTG có thể mất 2 nghìn tỷ đồng thu nhập lãi cho 6T2021. Chúng tôi cũng dự báo chi phí dự phòng tăng trong 2021 và 2022 để phản ánh ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch. Theo đó, chúng tôi điều chỉnh giảm -21,1% và - 7,3% LNTT 2021 và 2022 tương ứng còn 18,2 nghìn tỷ đồng (+6,7% YoY) và 25,1 nghìn tỷ đồng (+37,8% YoY). Ở mức giá 34.300 đồng/cp, CTG đang giao dịch tại PB 2021 và 2022 là 1,74x and 1,52x, thấp hơn trung bình toàn hệ thống là 2,02x và 1,66x.

• Chúng tôi điều chỉnh giảm giá mục tiêu 1 năm đối với CTG còn 42.300 đồng/cp (từ 43.700 đồng/cp), sử dụng BVPS trung bình 2021 và 2022 và PB mục tiêu không đổi là 2x. Dựa trên tiềm năng tăng giá 23,3%, chúng tôi nhắc lại khuyến nghị MUA cổ phiếu CTG. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ Covid, chúng tôi giữ quan điểm tích cực về triển vọng lợi nhuận của CTG do ngân hàng đã tích cực tái cơ cấu dư nợ cho vay theo hướng phân khúc bán lẻ có lợi suất cao hơn, cũng như nỗ lực không ngừng để xóa các khoản vay có vấn đề và cải thiện tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu. Việc ghi nhận thu nhập từ phí bancassurance và gia tăng hoa hồng bán bảo hiểm trong những năm tới cũng sẽ đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng.

Kết quả kinh doanh của CTG

• Tài sản sinh lãi (IEA) tăng mạnh từ cho vay khách hàng và liên ngân hàng. IEA tăng +9,9% YTD (cao hơn mức trung bình các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu là 6,9% YTD), với phần lớn tăng trưởng chính phát sinh trong Q2/2021. Điều này được củng cố nhờ tăng cho vay các tổ chức tài chính khác (+48,3% YTD, +71,1 nghìn tỷ đồng YTD), cho vay khách hàng (+5,6% YTD) và đầu tư vào TPCP (+31,1% YTD). Khác với đà tăng trưởng chậm trong 2020, trong 6T2021, CTG thúc đẩy hoạt động kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng trong bối cảnh Covid-19, đặc biệt khi VCB giảm đáng kể dư nợ trong 6T2021 (-27,1% YTD, - 95,4 nghìn tỷ đồng YTD). Cho vay TCTD khác trong tổng tài sản sinh lãi tăng lên 15,3% từ 11,4% trong 2020.

• Cơ cấu cho vay tiếp tục chuyển sang phân khúc bán lẻ có lợi suất cao hơn: Tăng trưởng tín dụng đạt +5,6% YTD (+13,4% YoY), sát với trung bình hệ thống ngân hàng là +5,5% YTD và cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái ở mức gần +0,3% YTD. Động lực tăng trưởng chính là khách hàng SME (+21,4% YoY) và khách hàng cá nhân (19,3% YoY) so với khách hàng doanh nghiệp lớn và trái phiếu doanh nghiệp (9,9% YoY), cũng như FDI (10,5% YoY).

Phân khúc khách hàng cá nhân và SME là đối tượng khách hàng mục tiêu của CTG trong những năm gần đây để cải thiện lợi suất tài sản. Hai phân khúc này chiếm 56,6% tổng tín dụng của CTG, tăng đáng kể từ 43,5% trong 2017.

Trong cho vay khách hàng cá nhân, cho vay hộ kinh doanh và mua nhà là hai sản phẩm chính, chiếm 20,6% và 10,1% tổng dư nợ cho vay.

Trong những năm tới, CTG đặt mục tiêu mở rộng cho vay khách hàng, phù hợp với xu hướng thu nhập tầng lớp trung lưu trong nước tăng. CTG vẫn đứng sau VCB về cho vay mua nhà, với tổng dư nợ cho vay là 109 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 45% so với VCB (tỷ trọng trong dư nợ cho vay là 10,1% tại CTG so với 26,3% tại VCB).

Về cho vay khách hàng doanh nghiệp, cơ cấu cho vay theo ngành là năng lượng, bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô và xe máy, vật liệu xây dựng, thực phẩm đồ uống, vật tư y tế, cao su, …Cho vay có tài sản đảm bảo chiếm 76,2% tổng dư nợ cho vay, thấp hơn nhiều so với VCB là 85%.

• Tiền gửi khách hàng tăng mạnh, 5,2% YTD so với trung bình toàn hệ thống là 3,1% YTD. Huy động từ khách hàng tăng 54,3 nghìn tỷ đồng trong 6T2021, chiếm 16,3% mức tăng trong số các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu.

Động lực tăng trưởng chính đến từ khách hàng doanh nghiệp (+7,2% YTD), khách hàng cá nhân (+5,5% YTD), và chứng chỉ tiền gửi (+8,5% YTD). LDR tiếp tục giảm còn 84,9%, phù hợp với kế hoạch giảm tỷ lệ này từ 86,1% trong 2020 xuống dưới 85% - mức trần quy định.

• Số hóa và phân khúc FDI giúp tăng CASA: CASA tăng +3,6% so với Q1/2021, do triển khai rộng rãi dịch vụ thanh toán và dịch vụ tài chính khác thông qua kênh E-banking (iPay cho KH cá nhân và eFast cho KH doanh nghiệp), và tiền gửi không kỳ hạn tăng từ khách hàng doanh nghiệp FDI. Tỷ lệ CASA đạt 18,7%, giảm từ 19,4% trong 2020.

CTG đặt mục tiêu tăng tỷ lệ CASA của khách hàng cá nhân, hiện đang thấp hơn khách hàng doanh nghiệp. Trong 6T2021, ngân hàng có gần 700.000 khách hàng cá nhân mới, nâng tổng số khách hàng cá nhân lên 15 triệu khách, trong đó, 11,5 triệu khách giao dịch thường xuyên. Kết quả sơ bộ đầy hứa hẹn, với tổng số lượng khách hàng cá nhân sử dụng phần mềm iPay tăng lên 3,6 triệu khách (+43% YoY), với tổng số lượng giao dịch tăng +117% YoY trong Q2/2021. Số lượng giao dịch qua E-bank tăng nhanh, chiếm 62% tổng số lượng giao dịch, từ mức chỉ 41% trong năm ngoái.

Đối với khách hàng doanh nghiệp, số lượng khách hàng sử dụng E-bank cũng tăng +101% YoY, với số lượng và giá trị giao dịch tăng +122% và +107% YoY trong Q2/2021.

• NIM Q2/2021 tăng +57 bps YoY lên 3,20%. Mặc dù lợi suất tài sản giảm -60 bps YoY, chi phí vốn giảm nhiều hơn với -125 bps YoY. NIM cải thiện phù hợp với xu hướng ngành, nhờ các yếu tố sau:

✓ Lãi suất cho vay trung bình giảm -54 bps YoY còn 7,83%.

✓ Lãi suất huy động trung bình giảm -145 bps YoY còn 3,68%.

NIM của CTG tương đương BID (3,22%) và VCB (3,50%), thấp nhất trong số các ngân hàng chúng tôi nghiên cứu, chủ yếu do cho vay lớn vào các khoản có lợi suất thấp hơn trên thị trường liên ngân hàng. Thu nhập lãi thuần Q2/2021 tăng +39,5% YoY lên 10,9 nghìn tỷ đồng.

• Thu nhập thuần từ phí (bao gồm bảo lãnh) đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, +26,5% YoY. Kết quả này là nhờ tài trợ thương mại, chuyển tiền, dịch vụ thẻ… cùng với các biện pháp tối ưu hóa chi phí. Cụ thể, thu nhập từ hoạt động bảo lãnh tăng +53,4% YoY, thanh toán +27% YoY, bancassurance +11,6% YoY, và dịch vụ khác +22,5% YoY. Về phân khúc khách hàng, KH cá nhân chiếm 64%, KH doanh nghiệp lớn 21,7%, SME 11,8% và FDI 20,1% trên tổng thu nhập từ phí.

CTG chiếm 11,3% thị phần tài trợ thương mại và 12,3% thị phần kinh doanh ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước trong 6T2021.

• Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và thu hồi nợ xấu biến động đối lập: Thu nhập từ kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư đạt 714 tỷ đồng, giảm -18,8% YoY. Lũy kế, thu nhập từ mảng kinh doanh này đạt 1,3 nghìn tỷ đồng (-30% YoY), do điều kiện thị trường kém thuận lợi so với 6T2020. Trong khi đó, thu hồi nợ xấu tăng +297% YoY lên 1,2 nghìn tỷ đồng trong Q2/2021. Lũy kế 6T2021, thu hồi nợ xấu đạt 1,5 nghìn tỷ đồng (+160% YoY), tương đương 80% mức cả năm 2020.

• Quản lý tốt chi phí hoạt động: CIR 6T2021 giảm còn 28,5% so với 31,9% trong cùng kỳ năm ngoái, nhờ hoạt động quản lý nhân viên và số hóa cải thiện. Tỷ lệ chi phí nhân viên trên PPOP (không gồm chi phí nhân viên) giảm còn 20%, từ 34,4% trong 2018.

• Chất lượng tài sản suy giảm:

✓ Nợ xấu tăng +62% QoQ, với nợ Nhóm 5 tăng lên 6,7 nghìn tỷ đồng, +119% so với Q1/2021, mặc dù ngân hàng đã xóa 2,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1,34% (từ 0,88% trong Q1/2021). Theo ban lãnh đạo, CTG chủ động tái cơ cấu kỳ hạn thanh toán cho 6 nghìn tỷ đồng dư nợ cho vay đối với một số khách hàng lớn được đánh giá đủ khả năng duy trì hoạt động. Theo quy định hiện hành (Thông tư 02/2013), khoản nợ nói trên trên bị hạ xuống nợ Nhóm 5 và ngân hàng đã trích dự phòng 3 nghìn tỷ đồng cho khoản nợ này. Mặc dù phân loại nợ Nhóm 5, CTG ước tính các khách hàng sẽ thanh toán các khoản nợ tái cơ cấu này và sẽ được phân loại lại thành khoản vay tiêu chuẩn trong Q3/2021.

✓ Chi phí dự phòng tăng lên mức cao nhất trong Q2/2021 đạt 7,1 nghìn tỷ đồng (+222% YoY), bù đắp cho mức chi phí dự phòng thấp trong Q1/2021. Lũy kế 6T2021, chi phí dự phòng tăng +28,1% YoY, nâng chi phí tín dụng 6T2021 lên 1,62% so với 1,41% trong 6T2020. Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu giảm còn 129% từ 155% trong Q1/2021.

✓ Nợ tái cơ cấu theo Thông tư 03 đạt 4,2 nghìn tỷ đồng (0,4% tổng dư nợ cho vay), hiện phân loại thành nợ tiêu chuẩn. Với 929 khách hàng, dư nợ cho vay nhóm này là 49 nghìn tỷ đồng (~4,55% tổng dư nợ cho vay, trong khi lãi phải thu là 1,6 nghìn tỷ đồng. Theo Thông tư 03, CTG sẽ trích lập dự phòng cho toàn bộ 49 nghìn tỷ đồng dư nợ, ước tính là 11,9 nghìn tỷ đồng (sau khi trừ giá trị tài sản đảm bảo). Trong Q1/2021, CTG đã trích lập dự phòng 5 nghìn tỷ đồng, vượt mức tối thiểu cho năm 2021 (3,57 nghìn tỷ đồng).

Nguồn: SSI

×
tvi logo