BID: Lợi nhuận dự kiến bật tăng mạnh trong năm 2021

BID: Lợi nhuận dự kiến bật tăng mạnh trong năm 2021

Lượt xem: 88
  •  

Định giá và quan điểm đầu tư

Nâng giá mục tiêu lên 52.000 đồng/cổ phiếu dựa trên tiềm năng cải thiện ROE

 Trong số các ngân hàng niêm yết, BID là ngân hàng đầu ngành về quy mô tổng tài sản và thị phần tín dụng. Ngân hàng có vị thế thanh khoản tốt so với ngành, với tỷ lệ tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động cao, chủ yếu nhờ lợi thế của một ngân hàng quốc doanh.

 Ngân hàng sẽ phát hành thêm hơn 341 triệu cổ phần (tương đương 8,5% số lượng cổ phiếu lưu hành cuối năm 2020) để chào bán. Việc tăng vốn cấp 1 thông qua bán vốn cổ phần, nhìn chung, sẽ có lợi cho ngân hàng về cả phía tăng mức độ an toàn vốn (CAR), cũng như giảm chi phí sử dụng vốn bình quân. Thêm vào đó, tỷ trọng nợ dài hạn (chủ yếu trái phiếu để tăng vốn cấp 2) lớn cũng góp phần giảm chi phí chí sử dụng vốn bình quân.

 Sau nhiều năm lợi nhuận của ngân hàng chịu áp lực trích lập dự phòng nợ xấu lớn, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2021 tăng trưởng 44% so với cùng kỳ do đã hoàn tất trích lập dư nợ VAMC. Hơn nữa, chất lượng tài sản của ngân hàng đang dần được cải thiện do BID đã tích cực xử lý nợ xấu trong vài năm trở lại đây. Mức mục tiêu này phù hợp với mức dự báo tăng trưởng 50% của chúng tôi.

 Các rủi ro trọng yếu: 1) kế hoạch tăng vốn có thể bị trì hoãn; 2) khả năng sụt giảm thị phần tín dụng do cạnh tranh cao; 3) khả năng duy trì tỷ lệ xóa nợ cao nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng; 4) dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 tương đối lớn; 5) định hướng cho vay với mức lãi suất ưu đãi cho các lĩnh vực được nhà nước khuyến khích có thể khiến biên lợi nhuận của BID thấp hơn các ngân hàng khác trong nước; 6) đối mặt với rủi ro cao trong trường hợp suy thoái kinh tế do quy mô dư nợ lớn, rủi ro tập trung danh mục.

Dự báo lợi nhuận năm 2021

Với mức tăng trưởng lợi nhuận 2021 kỳ vọng gần 52%, ROE năm 2021 có thể tăng lên 9%

 Chúng tôi dự báo tăng trưởng thu nhập lãi thuần năm 2021 khoảng 7,7% nhờ: 1) cải thiện nhu cầu tín dụng hậu COVID-19; 2) NIM được kỳ vọng cải thiện 4 điểm cơ bản so với năm 2020.

 Khoản trích lập dự phòng mới được kỳ vọng không tăng trong năm 2021 do đã tất toán dư nợ VAMC (giảm 0,8% so với cùng kỳ), khi đó, lợi nhuận trước thuế năm 2021 được kỳ vọng khoảng gần 13,6 nghìn tỷ (tăng hơn 50% so với cùng kỳ), so với mức mục tiêu của ĐHCĐ là 13 nghìn tỷ.

Định giá và khuyến nghị

Định giá và quan điểm đầu tư

Dù ngân hàng đã tăng vốn cấp 1 (thành phần chính của vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn vốn CAR) sau khi phát hành cổ phần cho cổ đông chiến lược KEB Hana Bank (thực hiện vào tháng 10/2019), tỷ lệ vốn cấp 1 (Tier 1) khoảng 6% như hiện tại vẫn khá thấp so với các ngân hàng khác trong nước; do đó, kế hoạch chào bán riêng lẻ cổ phần của ngân hàng được đánh giá là cần thiết để đảm bảo mức độ an toàn vốn của ngân hàng, cũng như là cơ sở để ngân hàng tăng cho vay và các tài sản có rủi ro khác. Theo kế hoạch của ĐHCĐ, ngân hàng sẽ phát hành khoảng hơn 207 triệu cổ phần để chi trả cổ tức năm 2019, và khoảng hơn 281 triệu cổ phần để trả cổ tức năm 2020. Ngoài ra, ngân hàng còn có kế hoạch phát hành thêm hơn 341 triệu cổ phần (tương đương 8,5% số lượng cổ phiếu lưu hành cuối năm 2020) để chào bán riêng lẻ cho nhà đầu tư. Hơn nữa, theo lộ trình giảm tỷ lệ vốn chủ sở nhà nước tại BID xuống 70% vào cuối năm 2022, nếu kế hoạch phát hành thêm 341 triệu cổ phiếu năm nay được hoàn thành, BID có thể sẽ phát hành thêm 368 triệu cổ phiếu trong năm tới. Theo tính toán của chúng tôi (xem Bảng 3), tỷ lệ cổ phần còn lại cho cổ đông ngoại có thể cao hơn 15% (tỷ lệ sau khi phát hành thêm), đây là mức hấp dẫn để thu hút thêm một đối tác chiến lược tiềm năng khác.

Như vậy, ngân hàng sẽ tiếp tục cải thiện vị thế vốn thông qua lợi nhuận giữ lại, chia cổ tức bằng cổ phiếu, và phát hành thêm riêng lẻ theo lộ trình đến năm 2022. Với tỷ lệ lợi nhuận giữ lại cao, chúng tôi giả định tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của BID ở mức 4%, cũng như nâng kỳ vọng đối với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) dài hạn từ mức 10,35% trong báo cáo trước lên 14%. Với tiềm năng cải thiện ROE, chúng tôi điều chỉnh mức giá hợp lý cho cổ phiếu BID lên mức 52.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng với mức định giá P/B là 1,98 lần. Hiện tại, BID đang giao dịch ở mức P/B 1,62 lần, thấp hơn mức trung bình 5 năm là 1,7 lần.

Luận điểm đầu tư:

• Trong số các ngân hàng niêm yết, BID là ngân hàng đầu ngành về quy mô tổng tài sản và thị phần tín dụng, theo sau bởi hai ngân hàng quốc doanh khác (Vietinbank hay CTG, Vietcombank hay VCB).

• Ngân hàng có vị thế thanh khoản tốt so với ngành, với tỷ lệ tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động cao, chủ yếu nhờ lợi thế của một ngân hàng quốc doanh (uy tín và tên tuổi) trong huy động vốn.

• Việc tăng vốn tự có thông qua bán vốn cổ phần, nhìn chung, sẽ có lợi cho ngân hàng về cả phía tăng mức độ an toàn vốn, cũng như giảm chi phí sử dụng vốn bình quân. Thêm vào đó, để ngân hàng duy trì tỷ lệ vốn cấp 2 (Tier 2) cao như hiện tại, BID trở thành một tổ chức phát hành năng động trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (năm 2020: ngân hàng đã phát hành mới lượng trái phiếu trị giá 23,7 nghìn tỷ đồng để tăng vốn cấp 2). Tỷ trọng nợ dài hạn lớn cũng góp phần giảm chi phí chí sử dụng vốn bình quân.

• Sau nhiều năm lợi nhuận của ngân hàng chịu áp lực trích lập dự phòng nợ xấu lớn, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2021 tăng trưởng 44% so với cùng kỳ do đã hoàn tất trích lập dư nợ VAMC. Hơn nữa, chất lượng tài sản của ngân hàng đang dần được cải thiện do BID đã tích cực xử lý nợ xấu trong vài năm trở lại đây. Mức mục tiêu này phù hợp với mức dự báo tăng trưởng 50% của chúng tôi.

Rủi ro đầu tư

• Kế hoạch tăng vốn có thể bị trì hoãn.

• Trong bối cảnh các ngân hàng tư nhân tăng trưởng rất mạnh mẽ và tăng thị phần, khả năng mở rộng thị phần của BID là khó.

• Ngân hàng có thể duy trì chiến lược xử lý nợ xấu (xóa nợ không có khả năng thu hồi và theo dõi ở ngoại bảng) để hạ thấp tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới mức 1,6% như mục tiêu ĐHCĐ đặt ra cho năm 2021. Thêm vào đó, mức dự phòng tích lũy để xử lý nợ xấu của BID tương đối thấp (~89% giá trị nợ xấu). Điều này có thể là nguyên nhân khiến cho tăng trưởng lợi nhuận của BID chưa thể bứt phá như kỳ vọng.

• Nợ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 hiện đang được cơ cấu giữ nguyên nhóm nợ chiếm khoản 2,3% tổng danh mục cho vay của ngân hàng. Với tổng mức dư nợ lớn, BID sẽ đối mặt với rủi ro lớn hơn trong kịch bản suy thoái kinh tế. Hơn nữa, danh mục cho vay của ngân hàng tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước lớn. Trong kịch bản xấu, tăng trưởng tín dụng kém, biên thu nhập lãi thuần (NIM) giảm, và chất lượng tài sản bị ảnh hưởng sẽ tạo áp lực lên tăng trưởng của BID.

• Danh mục tín dụng tập trung vào cho vay doanh nghiệp (~64%), tập trung vào các đối tượng doanh nghiệp được ưu tiên theo chỉ định của ngân hàng nhà nước như cho vay các doanh nghiệp xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao, và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Định hướng hỗ trợ này có thể khiến biên lợi nhuận của BID thấp hơn các ngân hàng khác trong nước.

Nguồn: Mirae Asset

×
tvi logo