BID: Áp lực tăng vốn quay trở lại

BID: Áp lực tăng vốn quay trở lại

Lượt xem: 114
  •  

Trong Q4/2020, NIM của BID tăng 33 bps (so với quý trước), giúp thu nhập lãi thuần và tổng thu nhập hoạt động lần lượt tăng 10,3% và 11,7% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế (LNTT) trong Q4/2020 chỉ là 2,2 nghìn tỷ đồng (-42% so với cùng kỳ) do trích lập dự phòng tín dụng tăng 93%. LNTT trong năm 2020 chỉ đạt 9,21 nghìn tỷ đồng (-14,1% so với cùng kỳ) và ROE giảm xuống mức thấp nhất trong 15 năm là 9,45%. Việc tăng trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu có tác động khá tích cực đến chất lượng tài sản của BID, khi tỷ lệ nợ xấu (bao gồm trái phiếu VAMC) và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLC) đều ở mức tốt nhất trong sáu năm qua.

Năm 2021, chúng tôi điều chỉnh tăng 2,2% ước tính LNTT lên 13,5 nghìn tỷ đồng (+46,4% so với cùng kỳ). Tuy ước tính lợi nhuận 2021 không thay đổi đáng kể nhưng việc chi trả cổ tức năm 2019 ở mức 8% bằng tiền mặt cao hơn ước tính của chúng tôi là 5% và làm giảm ước tính BVPS năm 2021. Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm 1,5% giá mục tiêu 1 năm xuống còn 46.430 đồng/cổ phiếu, dưa trên hệ số P/B mục tiêu không đổi là 2,2x tính trên BVPS 2021. Mặc dù lợi nhuận 2021 có thể tăng mạnh nhưng tăng trưởng những năm sau 2021 phụ thuộc vào khả năng tăng vốn và đây sẽ là yếu tố chính hỗ trợ tăng giá cổ phiếu. Giá mục tiêu này tương ứng với triển vọng tăng giá là 7,9% so với giá hiện tại và chúng tôi khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG đối với cổ phiếu BID.

Tín dụng tăng nhanh trong những tháng cuối năm 2020

Tăng trưởng tín dụng năm 2020 là 8,7% so với cùng kỳ, sát với hạn mức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao và cao hơn ước tính của chúng tôi (6%). Riêng trong Q4/2020, tổng dư nợ tăng 69 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 5,9% so với quý trước và tăng gấp đôi so với tăng trưởng của cả 3 quý đầu năm.

Cho vay khách hàng cá nhân tiếp tục là động lực tăng trưởng chính (+12% so với quý trước, +16% so với cùng kỳ), chiếm 67% tổng dư nợ tăng thêm trong Q4/2020 và chiếm 63% tổng dư nợ tăng thêm trong năm 2020. Tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân ở BID có xu hướng tăng trong 5 năm qua, từ 19,1% vào cuối năm 2016 lên 36,4% vào cuối năm 2020. Tổng dư nợ của khách hàng doanh nghiệp lớn cũng tăng đáng kể trong quý 4 (+5,2% so với quý trước, +9,6% so với cùng kỳ), chiếm 38,5% tổng dư nợ. Dư nợ khách hàng SME giảm (-0,1% so với quý trước, -1,7% so với cùng kỳ) với tỷ trọng giảm từ 27,7% (2019) xuống 25,1% (2020) do đại dịch Covid-19.

NIM tiếp tục nới rộng

NIM Q4/2020 tăng thêm +33 bps so với Q3 lên 2,89% - đây là mức cao nhất trong 8 quý gần đây do chênh lệch giữa lợi suất tài sản và chi phí vốn tiếp tục tăng.

Trong Q4/2020, lợi suất tài sản tăng 17 bps, phần lớn là do lợi suất cho vay tăng 41 bps so với Q3 lên 8,41%. Gói hỗ trợ 110 nghìn tỷ đồng đã hết hạn trong Q4/2020. Dư nợ tái cấu trúc của BID tại thời điểm cuối năm 2020 là 28,3 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,3% tổng dư nợ), giảm 10,7 nghìn tỷ đồng so với quý trước. Các khoản cho vay này được phân loại lại vào nợ Nhóm 1, tính lãi như bình thường và đã thu được một phần lãi dự thu không được hạch toán trước đó. Tăng trưởng cho vay cá nhân cũng là một yếu tố góp phần làm tăng lợi suất cho vay.

Lãi suất tiền gửi của BID giảm thêm -40 bps trong Q4 và tổng cộng giảm -290 bps đối với kỳ hạn dưới 12 tháng và -220 bps đối với các kỳ hạn dài hơn. Tỷ lệ CASA cải thiện lên mức cao nhất trong 3 năm là 18,6%. Ngoài ra, lượng giấy tờ có giá phát hành trong quý 4 giảm 20 nghìn tỷ đồng (-24% so với quý trước), trong đó phát hành trái phiếu (có lãi suất cao hơn tiền gửi) giảm 13,7 nghìn tỷ đồng (-23% so với quý trước). Do đó, chi phí vốn bình quân giảm -18 bps trong quý 4 và giảm -31 bps trong năm 2020. Việc tăng vốn chủ sở hữu (20,3 nghìn tỷ đồng) sau khi bán vốn cho KEB Hana Bank vào cuối năm 2019 cũng khiến chi phí vốn giảm.

NIM cải thiện tốt trong nửa cuối năm 2020 giúp thu nhập lãi thuần (NII) cả năm 2020 đạt 35,8 nghìn tỷ đồng, chỉ giảm nhẹ -0,5% so với cùng kỳ.

Hy sinh lợi nhuận để cải thiện chất lượng tài sản

So với 2019, tổng thu nhập hoạt động (TOI) năm 2020 tăng +4% nhờ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi (+17,2%). Chi phí hoạt động cũng giảm, trong khi hệ số CIR giảm xuống 35,4% (2020) từ 35,9% (2019) và thu nhập bình quân của nhân viên chỉ tăng +1,5% trong năm 2020, mức tăng thấp nhất trong 5 năm qua. Do đó, lợi nhuận hoạt động kinh doanh trước dự phòng năm 2020 vẫn tăng +4,8% so với 2019.

Tuy nhiên, LNTT năm 2020 chỉ đạt 9,2 nghìn tỷ đồng (-14,1% so với 2019) và ROE giảm xuống mức thấp nhất trong 15 năm là 9,45%. Chi phí dự phòng lên tới 23,1 nghìn tỷ đồng (+15% so với cùng kỳ) trong đó xóa nợ xấu lên tới 16,8 nghìn tỷ đồng. Chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể khi tỷ lệ nợ xấu (bao gồm trái phiếu VAMC) giảm xuống 1,76% (từ 2,01% tại ngày 31/12/2019) và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu tăng lên 88,4% (từ 75% tại ngày 31/12/2019), đây là tỷ lệ nợ xấu thấp nhất và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu cao nhất tại BID trong vòng sáu năm qua.

Áp lực tăng vốn quay trờ lại

Sau tăng tốc tín dụng cuối năm và quyết định chi trả cổ tức năm 2019 bằng tiền mặt với tỷ lệ 8%, hệ số CAR của BID giảm xuống 8,34% vào cuối năm 2020 (từ 8,77% tại ngày 31/12/2019). Tỷ lệ vốn cấp 1 chỉ đạt 5,88%. Số dư trái phiếu cấp 2 đã gần đến giới hạn. Với hệ số CAR hiện tại, chúng tôi ước tính BID có đủ vốn để tăng trưởng tín dụng trong năm 2021, nhưng việc tăng vốn là rất cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng trong tương lai.

Ngân hàng đã có kế hoạch phát hành tối đa 8,5% vốn điều lệ năm 2019 (341.538.106 cổ phiếu) thông qua phát hành công khai hoặc riêng lẻ trong giai đoạn 2020- 2021. Việc huy động vốn sẽ là động lực chính cho BID trong giai đoạn hiện nay.

Thu nhập phí ròng đang khẳng định vai trò của mình

Thu nhập phí ròng tăng lên 10,5% trong tổng thu nhập hoạt động từ mức 8,9% trong năm 2019. Trong năm 2020, thu nhập từ phí và hoa hồng chỉ tăng +9,4% so với cùng kỳ, mức này thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng từ 16% -25%/năm trong những năm trước. Tuy nhiên, chi phí ngoài lãi giảm -7% so với cùng kỳ khiến biên lợi nhuận từ phí và hoa hồng tăng mạnh từ 54,2% (2019) lên 61,1% (2020).

Bên cạnh tác động từ chính sách miễn giảm phí của CTCP Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), việc thúc đẩy ngân hàng số đã giúp tăng lượng giao dịch, thu nhập thanh toán ròng và cải thiện chi phí. Thu nhập từ phí sẽ bù đắp cho sự sụt giảm thu nhập ròng từ hoạt động đầu tư và kinh doanh ngoại hối trong năm 2021.

Ước tính lợi nhuận

Kết quả kinh doanh của BID trong năm 2020 sát với ước tính của chúng tôi. Tổng thu nhập hoạt động đạt kết quả tốt trong nửa cuối năm 2020 và chúng tôi ước tính tăng 7,2% trong năm 2021. Năm 2021, chúng tôi điều chỉnh tăng 2,2% ước tính LNTT lên 13,5 nghìn tỷ đồng (+46,4% so với cùng kỳ), dựa trên những giả định sau:

• Tăng trưởng tín dụng đạt 10% và tăng trưởng tiền gửi (bao gồm giấy tờ có giá) đạt 11,8% so với đầu năm. Hạn mức tăng trưởng tín dụng trong Q1/2021 được NHNN cấp cho BID là 2,7% so với cuối 2019.

• NIM chỉ tăng 4 bps do áp lực huy động vốn để đạt tỷ lệ LDR 85% và việc phát hành trái phiếu cấp 2 hỗ trợ CAR.

• Tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,6%, tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu đi ngang ở mức 88% và chi phí dự phòng giảm - 10% so với cùng kỳ (tương đương 2,3 nghìn tỷ đồng).

Quan điểm đầu tư

Chúng tôi không thay đổi đáng kể ước tính lợi nhuận 2021 nhưng việc chi trả cổ tức 8% bằng tiền mặt cao hơn mức ước tính của chúng tôi là 5% và làm giảm ước tính BVPS năm 2021. Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm 1,5% giá mục tiêu 1 năm xuống còn 46.430 đồng/cổ phiếu, dựa trên hệ số P/B mục tiêu không đổi là 2,2x áp dụng cho BVPS 2021. Mặc dù lợi nhuận 2021 tăng mạnh, tăng trưởng những năm sau 2021 phụ thuộc vào khả tăng vốn và đây sẽ là yếu tố chính hỗ trợ tăng giá cổ phiếu. Giá mục tiêu này tương ứng với triển vọng tăng giá 7,9% so với giá hiện tại và chúng tôi khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG đối với cổ phiếu BID.

Yếu tố hỗ trợ tăng đối với khuyến nghị: Phát hành tăng vốn thành công trong năm 2021, chi phí dự phòng giảm.

Rủi ro giảm đối với khuyến nghị: Số dư nợ xấu cao hơn ước tính; tăng trưởng tín dụng thấp hơn ước tính.

Nguồn: SSI

×
tvi logo