Báo cáo cập nhật cổ phiếu VNM 24/11/21

Báo cáo cập nhật cổ phiếu VNM 24/11/21

Lượt xem: 95
  •  

KQKD 3Q.2021:

VNM: Lũy kế 9T.2021, DTT đạt 45.100 tỷ đồng (-0,3% yoy, hoàn thành 73% KH năm) và LNST CT mẹ đạt 8.336 tỷ đồng (-6,5% yoy, hoàn thành 79% KH năm). Biên lợi nhuận gộp chung giảm 3,1 điểm phần trăm đạt 43,4% chủ yếu do chi phí nguyên liệu tăng cao như sữa bột và đường .

Dự phóng: Chúng tôi nâng mức dự phóng chủ yếu từ doanh thu nội địa phục hồi tốt hơn kỳ vọng, tăng 2,4% yoy. Cụ thể DTT đạt 59.865 tỷ đồng (tăng 1,0% sv. dự phóng cũ) và LNST CĐ mẹ đạt 10.517 tỷ đồng (tăng 5,7% sv. dự phóng cũ).

Cho năm 2022 chúng tôi dự phóng DTT tăng trưởng 2,5% đạt 61.362 tỷ đồng và LNST CĐ mẹ đạt 11.083 tỷ đồng (+5,4% yoy). Cho năm 2022 chúng tôi ước tính DTT tăng trưởng 2,5% đạt 61.362 tỷ đồng và LNST CĐ mẹ đạt 11.083 tỷ đồng (+5,4% yoy). Trong giai đoạn 1-2 năm tới VNM chưa cho thấy nhiều dư địa tăng trưởng, mặc dù VNM đã tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Chiến lược mới như mở rộng sang các mảng khác như thịt bò kỳ vọng đến năm 2023 mới có thể đóng góp nhiều cho KQKD của doanh nghiệp.

Rủi ro: nguyên vật liệu đầu vào tăng cao

Giá sữa bột nguyên liệu đầu vào là sữa nguyên kem (WMP) và sữa tách béo (SMP) vẫn trong xu hướng tăng.

Giá đường cũng trong xu hướng tăng mạnh do Việt Nam áp Thuế CBPG đối với đường nhập lậu từ Thái Lan.

Khuyến nghị: Chúng tôi khuyến nghị NẮM GIỮ cho năm 2022 với giá mục tiêu 98.100 đồng/cp (upside 13%), tương ứng với P/E 18,5x lần..

Q3.2021: nội địa phục hồi 4% yoy và các chi nhánh nước ngoài tăng trưởng đáng kể 20,2% yoy

KQKD hợp nhất Q3.2021: DTT tăng trưởng hơn kỳ vọng của chúng tôi với mức tăng 4,1% yoy đạt 16.194 tỷ đồng, chủ yếu từ thị trường nội địa phục hồi 3,7% yoy đạt 13.752 tỷ đồng và mảng chi nhánh nước ngoài tăng trưởng đáng kể 20,2% so với cùng kỳ năm ngoái lên mức 870 tỷ đồng.

Biên lợi nhuận gộp đạt 43,5% thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái (46,7%), do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng (sữa bột, đường).

▪ Mảng kinh doanh nội địa (gồm GTN): Phục hồi khá tốt, tăng trưởng 3,7% trong thời gian phong tỏa do Covid 19. Hai ngành hàng sữa nước và sữa đặc có sự tăng trưởng vượt bậc trong quí giúp cho kết quả kinh doanh phục hồi. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi phong tỏa trong Q3 nhưng VNM với lợi thế 13 nhà máy sữa và 5 kho đặt tại các vùng miền trên cả nước, đồng thời VNM đã tổ chức tốt khâu phân phối hàng hóa nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi phong tỏa. Kênh hiện đại và cửa hàng ghi nhận tăng trưởng cao hai chữ số bù đắp cho kênh truyền thống. Trong đó: GTN ghi nhận DTT tăng 2,6% yoy đạt 796 tỷ, LNST giảm 2,5% đạt 32,4 tỷ đồng. MCM ghi nhận DTT tăng 2,7% đạt 795 tỷ và LNST giảm 7,6% đạt 94,6 tỷ đồng do biên lãi gộp giảm còn 30,4% so với mức 34,6% cùng kỳ năm ngoái. VNM và MCM vẫn đang nghiên cứu và lựa chọn thời điểm bán chéo lẫn nhau để mở rộng thị trường.

▪ Mảng xuất khẩu trực tiếp (~80% Iraq): tăng trưởng 1,7% yoy đạt 1.560 tỷ đồng. VNM đang phát triển thêm các thị trường khác tại Châu Á và Châu Phi.

▪ CN nước ngoài (Driftwood, Angkor): dẫn dắt với phục hồi của Driftwood tại Mỹ với DT tăng trưởng gần 30% nhờ các trường học đang mở cửa trở lại. Angkor Milk quay về mức tăng 2 chữ số trong Q3 nhờ tình hình dịch bệnh tại Campuchia được kiểm soát tốt và có tỷ lệ tiêm chủng vaccin cao.

CP BH & QLDN giảm chiếm tỷ trọng 22,9%/DTT.

DT tài chính đạt 314,2 tỷ và CP tài chính 63.5 tỷ đồng.

LNST cổ đông mẹ đạt 2.926 tỷ đồng (-4,9% yoy).

Lũy kế 9T.2021, DTT đạt 45.100 tỷ đồng (-0,3% yoy, hoàn thành 73% KH năm) và LNST CT mẹ đạt 8.336 tỷ đồng (-6,5% yoy, hoàn thành 79% KH năm).

Mảng kinh doanh nội địa (gồm GTN): DTT giảm nhẹ 1,4% yoy đạt 38.182 tỷ đồng.

Mảng xuất khẩu trực tiếp: DTT tăng 7,5% yoy đạt 4.328 tỷ đồng.

CN nước ngoài (Driftwood, Angkor): DTT tăng 4,5% đạt 2.575 tỷ đồng.

CP BH và QLDN giảm tương ứng 6,1% yoy và 5,9% yoy chủ yếu do chi phí marketing giảm và CP phân bổ lợi thế thương mại giảm. Tỷ trọng CP BH & QLDN chiếm tỷ trọng 22,7%/DTT. (3Q.2020: 24,1%)

Biên lợi nhuận gộp chung giảm 3,1 điểm phần trăm đạt 43,4% chủ yếu do chi phí nguyên liệu tăng cao như sữa bột và đường.

MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁC

Sản phẩm mới: tung 9 sản phẩm mới trong Q3 và lũy kế đầu năm đã có 15 sản phẩm mới ra thị trường.

Liên doanh:

• Del Monte: sẽ kết hợp thế mạnh về sản phẩm của Vinamilk và hệ thống phân phối rộng lớn của Del Monte (DMPI).

VNM đã thông báo liên doanh với Tập đoàn Del Monte Philippines vào tháng 8/2021. Tổng vốn đầu tư là 6 triệu đô, mỗi bên góp 50%. Trong đó giai đoạn đầu DMPI sẽ phân phối các sản phẩm nhập khẩu từ VNM. Liên doanh sẽ sử dụng đồng thương hiệu Del Monte-Vinamilk. Các sản phẩm của DMPI hiện có mặt trên khắp Philippines với hơn 100.000 cửa hàng. Liên doanh có lợi thế về thương hiệu, mạng lưới phân phối và nhu cầu của người tiêu dùng ở Philippines.

DMPI có lịch sử hơn 95 năm hoạt động và là 1 trong top 3 DN về thực phẩm và đồ uống tại Philippines. DMPI nổi tiếng với các sản phẩm về dứa với thị phần số 1 tại Philippines như sau: theo số liệu của Nielsen tại tháng 4/2021: thị phần số 1 về nước dứa đóng hộp (89,4%), trái cây đóng hộp (77%), sốt cà chua (87%) và sốt spaghetti (38,7%). (Doanh số cho niên độ tài chính kết thúc vào tháng 4/2021 khoảng hơn 560 triệu USD) Liên doanh đã giới thiệu 4 dòng sản phẩm tại Philippines vào tháng 10/2021 gồm sữa chua, sữa dinh dưỡng, sữa tươi và trà sữa. Đến tháng 10 liên doanh đã có doanh thu 1 triệu USD. Mục tiêu DT trong năm đầu tiên 9tr USD (10/2021-10-2022), trung hạn 5 năm đạt mức CAGR 50% trong 5 năm đầu tiên và mục tiêu dài hạn chiếm 10% thị phần sữa tại Philippines. Theo chiến lược của VNM thì sau thời gian liên doanh đi vào hoạt động và ổn định thì sẽ xây dựng trang trại và nhà máy tại Philippines.

• LD Vilico với Sojitz: vẫn đang trong tiến trình thực hiện với Sojitz. Dự kiến thời gian đầu sẽ nhập khẩu thành phẩm từ Nhật Bản về và dự kiến trong Q4.2021 sẽ có sản phẩm ra thị trường. Khi dự án xây dựng hoàn tất (khoảng 1,5 năm) và đến 2023 mới có sản phẩm từ nội địa cung ứng cho khách hàng.

• Vibev: mọi công đoạn giới thiệu sản phẩm đã sẵn sàng và dự kiến sẽ giới thiệu sản phẩm trong tháng 11/2021. Tình hình KD trong tháng 10 sau khi gỡ bỏ phong tỏa: theo đại diện VNM, DT hợp nhất tháng 10 đã tăng trưởng trên 20% yoy và có một số tín hiệu tích cực do VNM tiếp tục đà tăng trưởng của Q3. Chúng tôi lưu ý tháng 10 năm ngoái ở mức nền thấp do ảnh hưởng bởi bão và lũ lụt tại miền Trung trong tháng 10 và 11. BLĐ kỳ vọng trong Q4 sẽ duy trì đà tăng trưởng như vậy.

Các trang trại mới: VNM dự kiến trang trại tại Quảng Ngãi (4.000 con) sẽ bắt đầu cung cấp sữa đầu tháng 11 này và trang trại tại Lào (năm đầu 4-8.000 con) sẽ dự kiến khai thác sữa vào Q1.2022. Trang trại tại Lào có qui mô đàn bò khá lớn với GĐ 1 tổng 24.000 con (bằng 70% đàn bò hiện có của VNM tại Việt Nam) và dự kiến hoàn thành trong 5 năm. Trang trại sinh thái tại Mộc Châu đã nhận được quyết định chấp thuận đầu tư và dự kiến khởi công trong năm nay.

Giai đoạn từ 2016 đến nay VNM chú trọng đầu tư tăng trưởng đàn bò sữa có năng suất cao. Tỷ lệ sữa nguyên liệu tự chủ của VNM đã tăng gấp đôi từ 21% năm 2016 lên mức 44% trong 2020. Đàn bò của VNM cũng có năng suất cao gấp đôi so với đàn bò liên kết từ hộ nông dân.

Việc tiếp tục đầu tư xây dựng trang trại giúp VNM chủ động nguyên liệu đầu vào và giảm tỷ lệ nhập khẩu sữa bột cũng như biến động giá tăng cao của sữa nguyên liệu trong các năm gần đây.

Nguyên vật liệu: Hiện tại nguyên liệu chính VNM đã trữ cho đến Q1.2022.

• VNM đã duy trì mức trữ nguyên vật liệu so với quí trước đạt 3.955 tỷ đồng (-2,7% qoq). Theo đại diện VNM thì lượng tồn kho này đủ cho sản xuất đến Q1.2022. Chúng tôi cho rằng biên lợi nhuận trong Q4.21 sẽ giảm nhẹ dù đã giảm bớt các chi phí so với quí Q3.21 nhưng giá sữa nguyên liệu đã bắt đầu tăng lại từ đầu tháng 9. VNM đã tích cực trữ nguyên vật liệu từ đầu Q2 và duy trì lượng lớn.

• Theo đại diện VNM sẽ không có ý định tăng giá sản phẩm. Tuy nhiên trong năm tới nếu giá đầu vào tiếp tục tăng cao thì VNM sẽ xem xét việc ảnh hưởng đến biên lợi nhuận, và sức tiêu dùng để có thể chuyển phần nào tăng giá đầu vào cho khách hàng ở mức độ tăng giá chỉ khoảng 2-3%.

Nguồn: VCBS 

×
tvi logo