Báo cáo cập nhật cổ phiếu VNM 11/8/2021

Báo cáo cập nhật cổ phiếu VNM 11/8/2021

Lượt xem: 55
  •  

KQKD 1H.2021:

VNM: Lũy kế 6T.2021, DTT đạt 28.906 tỷ đồng (-2,5% yoy, hoàn thành 47% KH năm) và LNST CT mẹ đạt 5.411 tỷ đồng (-7,7% yoy, hoàn thành 48% KH năm). Biên lợi nhuận gộp chung giảm 2,7 điểm phần trăm đạt 43,6% chủ yếu do chi phí nguyên liệu sữa bột tăng cao.

Năm 2021: Chúng tôi thận trọng cho rằng KQKD của năm 2021 tăng trưởng giảm 0,7 % yoy đạt 59.246 tỷ đồng (giảm 5,0% so với dự phóng cũ) và LNST CĐ mẹ ước tính đạt 9.951 tỷ đồng, giảm 11,2 % yoy. Nguyên nhân do thị trường nội địa sức mua giảm do ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 và gánh nặng tăng giá nguyên liệu tiếp tục gây áp lực giảm biên gộp. Mặc dù thị trường xuất khẩu tuy có tăng trưởng tốt về DT song khó có thể bù đắp biên lợi nhuận giảm do sự tăng giá của nguyên vật liệu và rủi ro của dịch Covid bùng phát.

Rủi ro: nguyên vật liệu đầu vào tăng cao

Giá sữa nguyên liệu đầu vào là sữa nguyên kem (WMP) và sữa tách béo (SMP) tăng mạnh. Ước tính giá SMP và WMP đã tăng hơn 20-30% so với bình quân năm 2020.

Giá đường cũng trong xu hướng tăng, ước tính trong 6 tháng đầu năm giá đường tăng trên 30% so với giá bình quân năm ngoái.

Khuyến nghị: Năm 2021 là một năm khá thách thức cho VNM trong việc hoàn thành kế hoạch đặt ra đầu năm là tăng trưởng DT 4,2% và LNST tương đương năm ngoái. Trong 4 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng kép của VNM đã giảm còn 4,0% so với giai đoạn 10 năm trước đạt 14,2%. Với triển vọng đầu tư kém hấn dẫn trong năm 2021 do tác động bởi dịch và xu hướng tăng giá nguyên liệu chúng tôi tiếp tục khuyến nghị NẮM GIỮ đối với VNM với giá mục tiêu đạt 88.100 đồng/cp tương ứng với PE 18,5x.

Q2.2021:

KQKD hợp nhất Q2.2021: DTT tăng trưởng nhẹ 1,4% yoy đạt 15.716 tỷ đồng, trong đó nội địa chỉ tăng nhẹ 0,8% yoy và mảng nước ngoài tăng trưởng cao 17,2% yoy. Thị phần giảm 0,1% so với thời điểm cuối năm 2020. Trong Q2 VNM đã tăng giá bình quân 2% yoy.

 Mảng kinh doanh nội địa (gồm GTN): DTT giảm nhẹ 0,8% yoy đạt và biên lợi nhuận gộp giảm còn 43,3% so với mức 45,6% của cùng kỳ năm ngoái. Việc thực hiện giãn cách xã hội từ tháng 5 đã ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ. Làn sóng Covid thứ tư tác động mạnh hơn đến tiêu thụ nội địa do mức độ lây nhiễm và thực hiện nghiêm giãn cách theo chỉ thị 15, 16 của Chính phủ và thu nhập của người tiêu dùng bị ảnh hưởng dẫn tới sức mua giảm.

Trong đó: GTN ghi nhận sự cải thiện, tăng trưởng 7,6% nhờ vào sữa Mộc Châu (hợp nhất BCTC GTN) và đặc biệt biên gộp cải thiện tăng 2,5 điểm %, đạt 32,1%. Mộc Châu có thị trường mục tiêu tại miền Bắc nên chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi giãn cách xã hội. Ngoài ra, MCM còn tận dụng được kênh phân phối của Vinamilk nhằm thúc doanh số nhanh chóng.

 Mảng xuất khẩu trực tiếp (~80% Iraq): tăng trưởng 17,2% yoy đạt 1.606 tỷ đồng. Trong Q2.21 dịch Covid tại Iraq vẫn chưa bùng phát mạnh mẽ nhưng đến nay Iraq đang đối diện với làn sóng thứ 3 của Covid trong khi tỷ lệ dân số chích ít nhất 1 liều vacxin là 5,8%.

 CN nước ngoài (Driftwood, Angkor): DT phục hồi cao do mức nền thấp của năm ngoái, tuy nhiên mới chỉ đạt 96% DT so với mức trước dịch (Q2.19). DT nước ngoài phục hồi nhờ vào việc thực hiện mở cửa lại các trường họcsau khi chương trình tiêm vacxin mở rộng tại Mỹ được thực hiện. Cụ thể, DT Driftwood tăng trưởng cao khoảng 20% yoy khi trường học hoạt động trở lại tại Mỹ. AngkorMilk duy trì tăng nhẹ 3% yoy do mức độ ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 còn thấp.

Nhìn chung, biên LNG thu hẹp 2,5 điểm %, đạt 43,6% chủ yếu do giá nguyên liệu sữa tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, tại các thị trường nội địa và xuất khẩu biên gộp đều giảm, riêng GTN biên gộp tăng nhưng do chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu DT (5%) nên KQKD không ảnh hưởng nhiều.

CP BH & QLDN giảm chiếm tỷ trọng 22,7%/DTT so với mức 24,2% cùng kỳ năm ngoái. Chủ yếu do chi phí khuyến mãi, marketing giảm do dịch bùng phát đợt 4. 1H.2021:

Lũy kế 6T.2021, DTT đạt 28.906 tỷ đồng (-2,5% yoy, hoàn thành 47% KH năm) và LNST CT mẹ đạt 5.411 tỷ đồng (-7,7% yoy, hoàn thành 48% KH năm). Mảng kinh doanh nội địa (gồm GTN): DTT giảm 4,0% yoy đạt 24.430 tỷ đồng. Mảng xuất khẩu trực tiếp: DTT tăng 13,1% yoy đạt 2.772 tỷ đồng.

CN nước ngoài (Driftwood, Angkor): DTT giảm 2,1% đạt 1.705 tỷ đồng do việc đóng cửa các trường học tại thị trường Mỹ trong Q1.2021.

CP BH giảm 5,8% yoy do chi phí marketing giảm, CP QLDN tăng 4,1% yoy. Tỷ trọng CP BH & QLDN chiếm tỷ trọng 22,6%/DTT. (1H.2020: 24,1%)

Biên lợi nhuận gộp chung giảm 2,7 điểm phần trăm đạt 43,6% chủ yếu do chi phí nguyên liệu sữa bột tăng cao.

MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁC

Tiến độ sáp nhập giữa GTN và VLC: VNM đã nộp hồ sơ trong tháng 6 và hiện đang bổ sung thêm hồ sơ theo yêu cầu của UBCK.

Vibev: dự kiến sản phẩm liên doanh với Kido sẽ được ra mắt vào Q3.2021.

Liên doanh Phillipine: sẽ đi vào hoạt động vào Q4.21 và sẽ đóng góp chung vào kết quả của công ty từ 2022.

Doanh thu tháng 7/2021: theo VNM tháng 7 DT đã tăng trưởng lại 6% yoy, trong đó chủ yếu từ thị trường nội địa, thị trường XK tăng trưởng thấp hơn. Sữa nguyên liệu tăng giá:

 Giá sữa nguyên liệu: hiện tại VNM đã chốt sữa bột nguyên liệu cho đến hết năm 2021. Theo BCTC thì VNM đã gia tăng trữ nguyên vật liệu liên tục trong Q1(tăng 10% ytd) và Q2 (tăng 39% so với thời điểm Q1). Có thể VNM đã chốt giá NVL sữa chủ yếu trong Q2 khi giá sữa bột đã tăng 5-10% so với Q1.21. Như vậy, chúng tôi cho rằng giá sữa tăng trong Q2.21 sẽ gây áp lực giảm biên lợi nhuận trong Q3.21. Theo Global Trade Dairy giá sữa bột nguyên kem và giá sữa bột gầy đã tăng mạnh trong tháng 4 tháng 5 và bắt đầu giảm mạnh trong tháng 6-7. Như vậy, nhiều khả năng sang tới 2022 mức giảm giá của nguyên liệu sữa mới phản ánh vào biên lợi nhuận gộp của VNM.

Nguồn: VCBS 

×
tvi logo