Báo cáo cập nhật kinh tế Việt nam - Toàn cảnh tăng trưởng kinh tế 2019

TỔNG CUNG

GDP quý 4 tăng 6.97%, thấp hơn quý 3 (7.48%) và 9 tháng đầu năm (7.04%). Sự giảm tốc của quý 4 xuất phát từ Nông nghiệp và Công nghiệp trong khi Xây dựng và Dịch vụ đã kéo tăng trưởng chung. Ngành Nông nghiệp quý 4 giảm -0.06% và Công nghiệp tăng 7.92%, đều là mức thấp nhất nhiều năm. Ở chiều ngược lại, Xây dựng tăng 10.32% và Dịch vụ tăng 8.09%, lại là mức cao nhất nhiều năm.

GDP cả năm 2019 tăng 7.02%, dù thấp hơn năm 2018 nhưng là năm thứ 2 liên tiếp đạt trên 7%, ngưỡng không thể đạt được trong 10 năm trước đó. Mặc dù vậy, 7% vẫn thấp hơn khá nhiều so với trung bình tăng trưởng trước khi xảy ra khủng hoảng 2008.

dh2151.png

Nông nghiệp tăng trưởng thấp do thời tiết và thị trường xuất khẩu; dịch chuyển cơ cấu cây trồng tiếp diễn tích cực

Thời tiết khô hạn và Trung Quốc hạn chế nhập khẩu nông sản Việt nam đã có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng ngành nông nghiệp. Tính chung cả năm, diện tích và sản lượng lúa giảm 1.3% và 1.7% trong khi giá lúa xuất khẩu trung bình của Việt nam giảm 13.2%. Trung Quốc vốn là thị trường lớn nhất nhưng xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đã giảm liên tục trong 2 năm qua. Giá trị gạo xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2019 giảm chỉ bằng 1/3 của năm 2018 và 1/4 của năm 2017.

Trong khi diện tích lúa và các cây lâu năm khác tăng thấp hoặc giảm, diện tích trồng cây ăn quả đã tăng 5.7% (năm 2018 tăng 6.6%) và lần đầu vượt 1 triệu ha. Các cây ăn quả cũng đạt sản lượng khá trong năm 2019 nhờ thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng cam tăng 12,4%, bưởi tăng 18,2%, xoài tăng 2,9%, thanh long tăng 15%. Giá trị xuất khẩu rau quả năm 2019 mặc dù giảm nhẹ 1.1% nhưng chủ yếu là do thị trường Trung Quốc giảm 14%. Nếu không tính Trung Quốc, xuất khẩu Rau quả năm 2019 tăng trên 25%. Chính sách dịch chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp đi đúng hướng đang cho kết quả tốt và điều này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt dài hạn.

 

 

 

dh2152.png

Gia tăng sản lượng đẩy cao GDP nhưng ngành thủy sản lại khó khăn vì giá cá tra giảm

Thuận lợi cả giá và thị trường trong năm 2018 đã khiến ngành thủy sản bước vào năm 2019 với sự lạc quan thái quá, đặt mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD, tăng trên 10%. Tuy nhiên thực tế giá trị xuất khẩu thủy sản 2019 chỉ đạt 8.57 tỷ USD, giảm 2.4%. Mục tiêu cao đã làm gia tăng diện tích nuôi trồng và sản lượng nhưng thị trường xuất khẩu lại không như kỳ vọng khi cả Mỹ, EU và Trung Quốc đều giảm nhập khẩu. Tuy Trung Quốc tăng nhập khẩu trở lại từ nửa cuối năm do khủng hoảng thịt lợn nhưng giá cá tra tại Việt nam vẫn không thể thoát đáy. Đây là một bài học cho ngành thủy sản để bước sang năm 2020 với những mục tiêu khả thi và chiến lược phát triển bền vững.

dh2153.png

Nhiều đầu tàu của ngành Công nghiệp đang chạy chậm lại

GDP Công nghiệp quý 4 chỉ tăng 7.92%, thấp hơn nhiều mức tăng của quý 3 (10.42%) và 9 tháng đầu năm (9.56%). Sự sụt giảm của sản xuất công nghiệp đến từ cả 3 cấu thành là Khai khoáng, Công nghiệp chế biến chế tạo và Sản xuất phân phối điện, khí đốt.

Khai khoáng giảm 0.92% trong khi quý 3 tăng 4.2% và 9 tháng tăng 2.68%

(i)         Khai thác Dầu thô và khí tự nhiên quý 4 giảm 3.6% là nguyên nhân chính kéo giảm ngành khai khoáng. Khai thác dầu ở các mỏ chủ lực trong năm 2019 đang trong giai đoạn suy kiệt, các mỏ mới phát hiện đều nhỏ, cận biên, điều kiện vận hành phức tạp, chi phí cao.

(ii)        Khai thác than tăng 8.2% thấp hơn nhiều quý 3 là 20.5%. Sự chậm lại của Khai thác than có tính mùa vụ khi đã qua mùa nắng nóng và sản lượng thủy điện tăng.

(iii)       Khai thác quặng Kim loại tăng mạnh 47.2% nhưng do tỷ trọng nhỏ nên không đủ bù đắp cho phần hụt đi của Dầu khí. Khai thác quặng kim loại đã tăng rất nhanh trong năm 2019 khi tăng khai thác các mỏ ở Hà Tĩnh, Tây Nguyên và Lào Cai.

 

 

dh2154.png

Công nghiệp chế biến chế tạo giảm tốc xuống 10.86%, thấp nhất nhiều quý.

(i)         Sản xuất than cốc và dầu mỏ tinh chế giảm 16%. Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn bảo dưỡng 50 ngày trong quý 4 đã làm sụt giảm mạnh tăng trưởng toàn ngành. Sang năm 2020, tăng trưởng của ngành cũng sẽ thấp do khó có thể tăng công suất nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn.

(ii)        Sản xuất Kim loại tăng 9.3%, chưa bằng 1/3 mức tăng trung bình của 3 quý đầu năm. Tăng trưởng cao của ngành Sản xuất kim loại trong nhiều năm qua xuất phát từ dự án Formosa. Khi thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu khó khăn, sản lượng của Formosa giảm sút, kéo theo tăng trưởng toàn ngành. Theo thống kê của Hiệp hội thép, tổng sản lượng thép bán hàng trong 11 tháng là 21.2 triệu tấn, tăng 6.3%, (9 tháng còn tăng 8.5%) trong đó thép xuất khẩu là 4.2 triệu tấn, giảm 2.6% (9 tháng còn tăng 2.9%).

(iii)       Sản xuất sản phẩm điện tử tăng 5.1%, riêng tháng 12 giảm 3.3%, mức thấp nhất 33 tháng. Ngành sản xuất điện tử sẽ chưa thể khả quan khi thị trường xuất khẩu điện thoại đã bão hòa. Nhập khẩu điện thoại và linh kiện liên tục sụt giảm, tháng 12 giảm 14%, là chỉ báo không tích cực cho sản xuất điện thoại và ngành điện tử trong giai đoạn đầu năm 2020.

(iv)       Sản xuất xe có động cơ tăng 2.8%, riêng tháng 12 hồi phục 11.9% sau 4 tháng gần như không có tăng trưởng. Sự xâm lấn của ô tô nhập khẩu và cầu yếu đã khiến ngành sản xuất ô tô trong nước tăng chậm lại. Theo báo cáo bán hàng của VAMA, lượng xe lắp ráp trong nước tiêu thụ trong tháng 11 giảm 12.4% và tính chung 11 tháng giảm 12.8% trong khi xe nhập khẩu tăng tương ứng là 15% và 104%.

(v)        May mặc giảm tốc đáng báo động, quý 4 chỉ tăng 3.7%. Chiến tranh thương mại thực tế đã có ảnh hưởng tiêu cực (thay vì tích cực như kỳ vọng) đến ngành dệt may từ 2 góc độ. Thứ nhất, tổng cầu dệt may toàn cầu tăng chậm 3.3% thay vì 7.4% như năm 2018. Thứ hai, xu thế kinh doanh ngắn hạn, phòng thủ trước các diễn biến khó lường về chính sách thương mại quốc tế, dẫn tới khó tối ưu kế hoạch và chi phí cho doanh nghiệp dệt may.

dh2155.png

Các ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn (Sản phẩm điện tử, Xe có động cơ, Dệt may) và ngành vốn có tăng trưởng rất cao (Dầu mỏ tinh chế, Kim loại) tăng trưởng chậm lại đã ảnh hưởng đến toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Điểm tích cực là phần lớn các ngành công nghiệp khác vẫn có tăng trưởng ổn định như:

(i)         Sản xuất đồ uống quý 4 tăng 10.3% (cùng kỳ tăng 7.2%)

(ii)        Dệt tăng 12.3% (cùng kỳ tăng 12.7%)

(iii)       Sản xuất da và sản phẩm tăng 13.4% (cùng kỳ tăng 11.9%)

(iv)       Chế biến gỗ tăng 11.9% (cùng kỳ tăng 11.3%)

(v)        Giấy và sản phẩm tăng 12.7% (cùng kỳ tăng 17.4%)

(vi)       Sản phẩm từ cao su & plastic tăng 12.9% (cùng kỳ tăng 3.1%)

(vii)      Sản phẩm nội thất (giường tủ bàn ghế) tăng 12.9% (cùng kỳ tăng 19.1%)

Tăng trưởng chậm lại của ngành Công nghiệp chế biến chế tạo có mối liên hệ lớn đến hoạt động của khối FDI. Xuất khẩu của khối FDI trong năm 2019 chỉ tăng 4.2% (năm 2018 tăng 12.4%), ngược lại, xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước tăng mạnh 17.7% (năm 2018 tăng 15.4%). Trong xuất khẩu của khối FDI, xuất khầu dầu thô giảm 7.8% và xuất khẩu các hàng hóa khác tăng 4.4%.

dh2156.png

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng trưởng thấp trong quý 4 cho thấy sự phụ thuộc vào một vài doanh nghiệp FDI lớn như Samsung (điện thoại), Formosa (thép), Lọc hóa dầu Nghi sơn (dầu mỏ tinh chế) mang đến nhiều rủi ro cho tăng trưởng. Sự sụt giảm của các doanh nghiệp này phần lớn đến từ nguyên nhân khách quan là thị trường tiêu thụ, nhưng cũng không loại trừ nguyên nhân chủ quan là thay đổi chiến lược đầu tư. Việc hoạch định và dự báo kinh tế Việt nam vì vậy cũng trở nên phức tạp.

Với điện thoại và lọc hóa dầu, việc can thiệp chính sách sẽ ít hiệu quả. Nhưng thép và sản xuất xe có động cơ có thể hỗ trợ bằng nhiều biện pháp. Ngoài dự án Formosa, năm 2020 dự án thép Hòa Phát Dung Quất sẽ đi vào hoạt động nên rất cần các biện pháp phòng hộ với thép Trung Quốc hay xúc tiến thương mại với các nước ASEAN (thị trường chính của thép xuất khẩu Việt nam). Giải ngân đầu tư công tăng tốc cũng sẽ làm tăng nhu cầu tiêu thụ thép và các vật liệu xây dựng khác.

 

Sản xuất và phân phối điện tăng chậm

GDP Sản xuất & Phân phối điện, khí đốt quý 4 tăng thấp, 7.6%. Sản lượng điện sản xuất có tăng nhưng tốc độ tăng ngày một chậm lại, tháng 12 chỉ còn tăng 3.9%, thấp nhất 15 tháng (cùng kỳ tăng 11.5%). Ngoài vấn đề thời tiết, thời vụ, nhu cầu tiêu thụ cũng đã các tác động đến sản xuất của ngành. Điện thương phẩm năm 2019 đạt 209 tỷ kWh, tăng 8,87% (năm 2018 tăng 10.47%). Sản xuất điện năng và ngành công nghiệp có mối quan hệ khá tương đồng và cùng tăng chậm lại trong các tháng cuối năm 2019, một chỉ báo cần lưu tâm trong các quý đầu năm 2019.

dh2157.png

Xây dựng tăng cao, nhưng có thực chất?

GDP Xây dựng quý 4 tăng rất cao, 10.3%. Là ngành có giá trị lớn thứ 4 trong nền kinh tế nên tăng trưởng của ngành Xây dựng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng chung. Số liệu từ Tổng cục thống kê về ngành Xây dựng không còn chi tiết nên không thể phân tích sâu hơn về cấu thành tăng trưởng, tuy nhiên số liệu tiêu thụ xi măng và sắt thép từ các Hiệp hội lại cho một bức tranh tương phản.

Theo Hiệp hội thép, sản lượng tiêu thụ thép trong nước 2 tháng đầu quý 4 là 3.2 triệu tấn, tăng 3.7% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng của quý 2 và quý 3 là 20% và 8.4%. Còn theo Hiệp hội xi măng, tiêu thụ xi măng trong nước đã có dấu hiệu chững lại từ nửa cuối năm. Tiêu thụ xi măng cho thị trường nội địa năm 2019 ước tính chỉ tăng 1% so với năm 2018 (năm 2017 và 2018 tăng lần lượt 3% và 9%).

dh2158.png

Những ngành tỷ trọng lớn của Dịch vụ cũng tăng cao bất ngờ

Dịch vụ đạt mức tăng trưởng rất ấn tượng trong quý 4 nhờ các ngành lớn như Bán buôn bán lẻ tăng 9.82%, Tài chính ngân hàng bảo hiểm tăng 9.26%, Vận tải kho bãi tăng 10.86%. Ngành Bất động sản và Lưu trú ăn uống có mức tăng trưởng khiêm tốn, 4.87% và 7.4% nhưng đây cũng là mức tăng cao nhất trong 4 quý. Mặc dù tăng cao, độ tin cậy của một số số liệu thành phần cần phải được xem xét kỹ.

dh2159.png

Bán buôn bán lẻ có tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực Dịch vụ (chiếm 25%) và đứng thứ 3 trong GDP (chiếm 10%) nên sự cải thiện nhanh của Bán buôn bán lẻ cũng có tác động như ngành Xây dựng. GDP Bán buôn bán lẻ tăng cao nhưng Chỉ số bán lẻ (đã trừ lạm phát) vào cuối quý 4 chỉ dừng lại ở 9.2%, tương đương 9 tháng và thấp hơn so với cùng kỳ là 9.4%. Tốc độ bán xe ô tô chậm lại cũng là một dấu hiệu cho thấy sức cầu tiêu dùng không có cải thiện nào đáng kể trong quý 4.

Kinh doanh Bất động sản quý 4 tăng 4.87%, kéo cả năm tăng 4.6%, cao hơn so với năm 2018 là 4.3%. Thực tế thì năm 2019 khó có thể coi là một năm khởi sắc của thị trường bất động sản do các vướng mắc về thủ tục pháp lý đã làm giảm nguồn cung mới trong khi các quy định về an toàn vốn đã siết chặt hơn nguồn tín dụng cho vay bất động sản.

dh2160.png

Một tín hiệu có thể lạc quan trong lĩnh vực Dịch vụ là ngành Lưu trú ăn uống, tương ứng là sự đi lên của Du lịch. Lượng khách quốc tế đến Việt nam đã có sự cải thiện rõ nét trong nửa cuối năm nhờ sự trở lại của khách Trung Quốc. Đây là tiền đề tốt để duy trì được tăng trưởng cao khi bước sang năm 2020. Việc mở thêm các tuyến bay mới rõ ràng có kết quả tích cực đến thu hút khách Nhật bản, Đài Loan, và Thailand. Ngược lại, chính sách miễn thị thực với một số quốc gia Châu Âu là chưa đủ để đẩy nhanh lượng khách đến từ khu vực này.

dh2161.png

Như vậy từ các số liệu từ phía cung, có một vấn đề cần lưu ý như sau:

(i)         Tăng trưởng quý 4 mặc dù là khả quan nhưng Nông nghiệp và Công nghiệp đang tăng trưởng chậm lại. Nông nghiệp có thể sẽ cải thiện khi thời tiết sang năm 2020 bớt khô hạn nhưng Công nghiệp, đặc biệt là Công nghiệp chế biến chế tạo do phụ thuộc vào khối FDI và thị trường xuất khẩu nên sẽ vẫn còn khó khăn.

(ii)        Để kích thích ngành công nghiệp chế biến chế tạo rất cần có những giải pháp hỗ trợ kịp thời từ phía nhà nước, bao gồm chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, xúc tiến xuất khẩu, đẩy nhanh đầu tư công, khuyến khích phát triển khối kinh tế tư nhân.

(iii)       Xây dựng và Dịch vụ tăng trưởng cao nhưng chất lượng số liệu cần phải xem xét. Không có nhiều số liệu chi tiết để kiểm chứng được độ xác thực từ các số liệu độc lập thì có thể thấy một bức tranh có phần trung tính hơn của 2 ngành này.

Năm 2019 đạt tăng trưởng xấp xỉ 2018 nhưng cấu thành tăng trưởng đã có sự thay đổi lớn khi Công nghiệp CBCT và Nông nghiệp giảm sút. Khai khoáng cải thiện nhưng không bền vững. Nhiều ngành Dịch vụ và Xây dựng có thực sự cải thiện hay không vẫn là một dấu hỏi.

 

dh2162.png

TỔNG CẦU

Tiêu dùng và đầu tư

Tiêu dùng cuối cùng năm 2019 tăng 7.23%, có cải thiện nhẹ so với năm 2018 là 7.17%. Tuy vậy thành tố chính thuộc tiêu dùng cuối cùng lại không ủng hộ cho sự cải thiện này. Chỉ số bán lẻ (đã trừ lạm phát) năm 2019 tăng 9.2% trong khi 2018 tăng 9.4%. Tăng trưởng tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 cũng giảm xuống 10.2% (2018 là 11.2%). Tích lũy tài sản tiếp tục giảm tốc, cả năm đạt 7.91%, mức thấp nhất nhiều năm.

dh2163.png

Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội giảm so với 2018 do cấu thành nhà nước và FDI tăng chậm. Ngược lại, khối Tư nhân tăng tới 17.3%, dù có thấp hơn chút ít so với 2018 (18.5%) nhưng vẫn là mức rất cao so với trung bình những năm trước đó.

Tăng trưởng đầu tư của khối tư nhân không cùng chiều với xu hướng tăng trưởng tín dụng cho thấy khả năng huy động vốn tốt của khối tư nhân qua thị trường vốn và các kênh huy động khác. Điều này cũng góp phần kiểm soát tăng trưởng tín dụng, giúp duy trì ổn định cho hệ thống ngân hàng và ổn định vĩ mô.

dh2164.png

Xuất nhập khẩu

Xuất khẩu hàng hóa cũng chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của khối trong nước. Năm 2019 xuất khẩu của khối trong nước tăng 17.7%, cao hơn nhiều khối FDI là 4.2%. Do tỷ trọng của khối FDI vẫn rất lớn, chiếm gần ¾ tổng giá trị xuất khẩu nên tăng trưởng xuất khẩu chung cả năm vẫn giảm xuống 8.1% (năm 2018 là 13.2%).

Xuất siêu hàng hóa của năm 2019 đạt mức kỷ lục 10 tỷ USD, tăng 42%. Trong đó khối FDI xuất siêu 35.8 tỷ USD, tăng 17% (năm 2018 tăng 35%), khối trong nước nhập siêu 25.9 tỷ USD, tăng 9.7% (năm 2018 tăng 19%).

Khối trong nước thường xuyên nhập siêu (ngược với FDI là xuất siêu) nên tăng trưởng xuất khẩu cao của khối trong nước đã kìm lại đà tăng nhập siêu, từ đó làm tăng tổng xuất siêu ngay cả khi tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI chậm lại.

dh2165.png

Trong các nhóm hàng hóa xuất khẩu của năm 2019, khối trong nước nổi lên với nhóm hàng công nghiệp như máy móc thiết bị, sản phẩm điện tử và đặc biệt là điện thoại. Xuất khẩu điện thoại của khối trong nước năm 2019 tăng đột biến hơn 10 lần so với cùng kỳ. Như vậy sự vươn lên của khối tư nhân đã mang lại kết quả tức thì cho tăng trưởng, cơ cấu kinh tế và ổn định vĩ mô.

dh2166.png

Xuất khẩu dịch vụ cũng có tăng trưởng tương đối tốt, 12.6%, giảm nhẹ so với 2018 nhưng cao hơn nhiều các năm 2016, 2017 (8.9% và 7%). Đóng góp chính cho xuất khẩu dịch vụ là Du lịch, chiếm 71% tỷ trọng và có tăng trưởng cao nhất, 17.4%. Nhập khẩu du lịch, ngược lại, tăng thấp, 4.1%. Nhìn ở góc độ tích cực thì ngành du lịch của Việt nam đã có chuyển biến và giúp không chỉ thu hút khách du lịch quốc tế mà còn chính khách trong nước. Tuy nhiên nếu nhìn ở góc độ tiêu cực thì đây cũng là một chỉ báo cho thấy sức cầu tiêu dùng của người Việt nam ít có cải thiện.

Nhập siêu Dịch vụ năm 2019 là 2.47 tỷ USD, giảm 32%, trong đó nhập siêu chủ yếu là dịch vụ vận tải, 6.1 tỷ USD, tăng 3% trong khi đó Du lịch xuất siêu 5.68 tỷ USD, tăng 31%. 

Giảm nhập siêu dịch vụ nhờ Du lịch cùng gia tăng xuất siêu hàng hóa nhờ khối trong nước đã giúp tổng xuất siêu hàng hóa và dịch vụ của năm 2019 đạt 7.46 tỷ USD, tăng 2.2 lần so với năm 2018. Đây là minh chứng cho thấy chính sách phát triển du lịch và kinh tế tư nhân đang đi đúng hướng.

dh2167.png

Tóm lại, các số liệu tăng trưởng của quý 4 và cả năm 2019 cho thấy một bức tranh đa dạng và tương phản dù gam mầu chung có phần tươi sáng. Chính sách ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng trong những năm qua về cơ bản đã mang lại kết quả tích cực, tạo tiền đề cho kinh tế Việt nam tăng tốc.

Hướng đến mục tiêu 8% và thậm chí cao hơn là 10%, ngoài việc duy trì những chính sách đã được chứng minh là đúng, Việt nam vẫn cần thêm nhiều chính sách để khơi thông và phát triển nguồn lực, tạo thêm các động lực tăng trưởng mới.

Tận dụng sức cầu trong nước chỉ là giải pháp trước mắt, trong dài hạn Việt nam phải xác định chỉ có thị trường toàn cầu mới có thể tạo ra tăng trưởng cao và bền vững. Tăng trưởng thế giới có thể chậm lại, xu hướng toàn cầu hóa có thể thoái trào, Việt nam vẫn phải tìm mọi cách để tăng nhanh năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh chính sách từ trung ương, các địa phương cũng phải nỗ lực tự tìm hướng đi riêng dựa trên những lợi thế sẵn có.

Thập kỷ vừa qua có nhiều dấu ấn đáng nhớ và đáng quên. Đáng quên là giai đoạn khó khăn xuất phát từ những lý do rất chủ quan kéo dài hơn nửa đầu thấp kỷ. Đáng nhớ là những bài học rút ra từ xử lý khủng hoảng và nỗ lực cải cách. Bài học đó là tài sản quý để tạo nên một thập kỷ mới sẽ chỉ còn những dấu ấn đáng nhớ.

(Nguồn: SSI)

[Quay lại]



Các tin liên quan

Tác động của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) đối với ngành dệt may

CẬP NHẬT NGÀNH DỆT MAY: Những khó khăn tiếp tục làm giảm tăng trưởng ngành

CẬP NHẬT NGÀNH DẦU KHÍ: Tăng trưởng lợi nhuận tốt sẽ đến từ các công ty vốn hóa nhỏ

CẬP NHẬT NGÀNH DƯỢC: Lợi thế cạnh tranh cho các công ty dược phẩm trong nước đạt tiêu chuẩn chất lượng cao

CẬP NHẬT NGÀNH ĐIỆN: Nguồn cung nhiên liệu chưa ổn định

CẬP NHẬT NGÀNH HÀNG KHÔNG: Cạnh tranh gia tăng giới hạn tiềm năng tăng trưởng

Đánh giá tác động của dịch virus Corona tới các nhóm ngành

CẬP NHẬT NGÀNH CẢNG BIỂN & LOGISTICS: Cạnh tranh ngày càng gia tăng

CẬP NHẬT NGÀNH NGÂN HÀNG: Tiếp tục tăng trưởng ở mức hai con số

CẬP NHẬT NGÀNH THÉP: Nhu cầu tiếp tục tăng trưởng chậm