TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

Báo cáo thương mại Việt nam quý 2 2019 - Xuất khẩu chậm lại và giải pháp từ nội lực

Ngày: 26/07/2019 04:00 - Lượt xem: 140

Tính chung 6 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu đạt 122.5 tỷ USD, nhập khẩu đạt 120.9 tỷ USD, xuất siêu 1.59 tỷ USD.

Xuất khẩu đã có dấu hiệu phục hồi trong Q2, từ mức tăng 5.3% yoy trong Q1 lên 9.6%, kéo tăng trưởng 6 tháng đạt 7.2%. Dẫu vậy, đây vẫn là mức tăng trưởng rất thấp so với cùng kỳ năm ngoái là 16.9% và trong 10 năm gần nhất, mức tăng này chỉ cao hơn mức 5.6% của 6T2016.
Sự giảm sút của nhóm FDI vẫn là nguyên nhân chính kéo xuất khẩu tăng chậm lại. Khối này chỉ tăng 5.5% trong 6 tháng đầu năm so với mức tăng 12% của khối doanh nghiệp trong nước.
Chiều nhập khẩu cũng thể hiện xu hướng tương tự nhưng có tốc độ tăng trưởng cao hơn đạt 8.9% yoy, trong đó, khối FDI tăng 6.5% và khối DN trong nước tăng 12.2%.
Tính chung 6 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu đạt 122.5 tỷ USD, nhập khẩu đạt 120.9 tỷ USD, xuất siêu 1.59 tỷ USD.




Xuất khẩu Hàng điện tử cho tín hiệu cải thiện

Chiếm tỷ trọng 40% tổng giá trị xuất khẩu và có tốc độ tăng trưởng cao, nhóm các sản phẩm điện tử vẫn là nhóm dẫn dắt xu hướng thương mại của Việt Nam. Giảm -3.67% yoy trong Q1, xuất khẩu của nhóm đã tăng +13.4% yoy trong Q2, kéo tăng trưởng 6 tháng đạt +3.91%. Hoa Kỳ là thị trường chính giúp duy trì tăng trưởng. Thị trường này tăng 81.8% trong 6T trong khi hầu hết các thị trường lớn đều giảm như Trung Quốc -26.3%, Nhật Bản -18%, ASEAN -8.1%, EU -6.7%.

Xuất khẩu Máy vi tính cũng cải thiện từ mức tăng +9.8% lên +14.8%, đồng thời vượt Dệt may trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2. Máy ảnh, máy quay phim chỉ tăng +2.84% từ nền cao của năm ngoái. Tình hỉnh xuất khẩu cải thiện giúp chỉ số sản xuất công nghiệp sản phẩm điện tử phục hồi nhẹ dù vẫn còn ở mức thấp, +3.5% yoy.

Nhóm Hàng điện tử bắt đầu giảm tốc từ cuối năm 2018 và thậm chí tăng trưởng âm trong những tháng đầu năm 2019 do thị trường toàn cầu bước vào giai đoạn bão hòa với điện thoại di động. IDC cho rằng doanh thu smartphones toàn cầu sẽ giảm -1.9% trong cả năm 2019. Điểm tích cực là dự báo giảm sút chính trong nửa đầu năm, -5.5% và sau đó trong nửa cuối năm sẽ lấy lại tăng trưởng +1.4% nhờ động lực từ công nghệ 5G, các thiết bị giá rẻ và nhu cầu từ thị trường Ấn Độ. Thị trường điện thoại di động vì vậy có thể trở lại vùng tăng trưởng từ năm 2020.



Xuất khẩu Dệt may, Giày dép chưa có đột phá

Nhóm sản phẩm gia công như Hàng Dệt may, Giày dép giữ tốc độ tăng trưởng ổn định. Trong 6 tháng, Dệt may tăng +10.5% đạt 15 tỷ USD, Giày dép tăng +13.6% đạt 8.7 tỷ USD, là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Giày dép có cải thiện từ mức tăng +10.4% trong năm 2018 trong khi Hàng Dệt may lại chậm lại so với mức tăng +16.5% trong năm 2018.

Cả hai mặt hàng này đều có thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ. Xuất khẩu Giày dép sang Hoa Kỳ (tỷ trọng 36.9%) đã tăng mạnh trong Q2 (+19.1%) kéo tăng trưởng 6T đạt +15.4%, bên cạnh thị trường Trung Quốc (+20.3%), Hàn Quốc (+17.6%), ASEAN (+26.1%) và Ấn Độ (+37.4%) là các thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhưng chiếm tỷ trọng không đáng kể. Ngược lại, Châu Âu là thị trường XK Giày dép lớn thứ hai của Việt Nam với tỷ trọng 28.5%, nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt +8.6% trong 6T/2019.

Đối với mặt hàng Dệt may, cả 3 thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ (tỷ trọng 47%), EU (13.1%), và Nhật Bản (11.9%) chỉ tăng trưởng ở mức khiêm tốn tương ứng +9.9%, +4.8% và +4.2%. Trong 5 tháng đầu năm, XK May mặc của Việt Nam sang Hoa Kỳ xếp thứ 3 với tổng giá trị 2.28 tỷ USD, tăng +11.9%. Trung Quốc đứng vị trí số 1, 12 tỷ USD, tăng thấp +2.9%. Thứ 2 là là Ấn Độ, 2.64 tỷ USD, tăng +15.6%.

Mặc dù được kỳ vọng hưởng lợi từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, xuất khẩu Dệt may vẫn chưa tận dụng được thời cơ để tạo lợi thế với các đối thủ cạnh tranh. Khoảng cách về quy mô và năng lực sản xuất của Trung Quốc với các quốc gia khác là khá lớn và khó có thể thay thế trong ngắn hạn. Mặt khác, xuất khẩu xơ, sợi dệt sang Trung Quốc gặp khó khăn, chỉ tăng +0.9% trong Q2 và tăng +8.3% trong 6T.



Xuất khẩu nông sản chưa có nhiều chuyển biến

Xuất khẩu các mặt hàng nông sản hầu hết vẫn ở tình trạng khó khăn. Riêng Gỗ là mặt hàng có mức tăng trưởng vượt trội +17.5%, Cao su, Hàng rau quả, Hạt tiêu và Chè tăng nhẹ trong khi các mặt hàng chủ lực như Gạo, Cà phê, Điều tiếp tục giảm mạnh.

Xuất khẩu Gỗ và sản phẩm gỗ đạt giá trị 4.83 tỷ USD trong 6T đầu năm, có mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Trong các thị trường chính, Hoa Kỳ chiếm gần 1/2 tổng giá trị xuất khẩu và đạt mức tăng +32.9%, tiếp theo là Nhật Bản (tỷ trọng 13.5%) tăng +19.9%, EU (9.3%) tăng +11.4%. Thị trường Trung Quốc (12%) giảm -0.5% và Hàn Quốc (8.9%) giảm -8.5%. Xuất siêu Gỗ và sản phẩm gỗ đạt tới 3.59 tỷ USD, tăng +18.5% so với cùng kỳ.

Hàng rau quả có chuyển biến tích cực, từ mức giảm -3.2% trong Q1 lên tăng +8.4% yoy trong Q2 kéo tăng trưởng 6T đạt +2.8%. Thị trường chính của sản phẩm Rau quả Việt Nam vẫn là Trung Quốc với 76% thị phần và tăng +5.4% trong Q2 tuy nhiên vẫn giảm -0.4% trong 6T. Đáng chú ý là nhiều thị trường phát triển dù chiếm tỷ trọng khiêm tốn nhưng đạt tăng trưởng cao như EU +33%, Hoa Kỳ +12.7%, Hàn Quốc +12.3%, Hong Kong +133%, Australia +35%. Trong tháng 2/2019, Việt Nam đã được Mỹ cấp phép nhập khẩu xoài tươi, cùng với các sản phẩm thanh long, nhãn, chôm chôm, vải thiều và vú sữa là các sản phẩm trái cây đang từng bước thâm nhập vào các thị trường khó tính.

Ngược lại, xuất khẩu thủy sản bất ngờ giảm -3.5% kéo tăng trưởng 6 tháng về mức âm -1.5%. Xuất khẩu cá tra trong 6T/2019 đạt 961 triệu USD, giảm -4.1%, đặc biệt giảm mạnh trong giai đoạn tháng 3- tháng 6. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ giảm mạnh -27.9%, riêng tháng 6 giảm tới -40.8% do Mỹ đưa ra kết luận về mức thuế chống bán phá giá kỳ POR14 cao hơn nhiều mức thuế sơ bộ. Thị trường lớn nhất của cá tra là Trung Quốc – Hong Kong (26.4%) tăng trưởng khiêm tốn +1.2%. Thị trường EU và ASEAN đạt tăng +18% và +7.9% khi các doanh nghiệp chịu áp lực từ thị trường Mỹ đã chuyển hướng mở rộng sang các thị trường này. Đây cũng là hướng đi mà các doanh nghiệp nên hướng tới, đặc biệt khi EVFTA có hiệu lực. Mức thuế mặt hàng cá tra chủ lực sẽ về 0% sau 3 năm. Vasep dự báo xuất khẩu cá tra sẽ phục hồi trong giai đoạn tăng tốc xuất khẩu quý 3.

Xuất khẩu tôm sau khi giảm mạnh trong quý 1 đã có dấu hiệu nhích lên từ tháng 4. Đặc biệt, việc Mỹ công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ 0% cho tôm Việt Nam đã có ảnh hưởng tốt tới xuất khẩu sang thị trường này. Một số sản phẩm đã có tăng trưởng cao như tôm bao bột tăng 48% trong 5 tháng. Xuất khẩu tôm được kỳ vọng sẽ hưởng lợi từ chính sách thuế mới của Mỹ, EVFTA làm tăng sức cạnh tranh của Việt Nam so với các đối thủ như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan.

Không được tích cực như tôm, các nông sản xuất khẩu chủ lực như Gạo, Cà phê, Điều, Tiêu, Sắn tăng trưởng âm. Giá xuất khẩu các mặt hàng này đều giảm mạnh so với cùng kỳ: gạo -14.9%, cà phê -11.5%, điều -21.6%, tiêu -25.4%, nên mặc dù lượng xuất khẩu có tăng ở hạt điều và tiêu, giá trị xuất khẩu vẫn giảm. Sau 6 tháng, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này phần lớn đều giảm trên 10%.



Nhập khẩu tập trung vào nguyên liệu sản xuất

Nhập khẩu tăng trưởng chậm lại trong tháng 6 nhưng vẫn cao hơn xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng +8.9% trong 6 tháng, đạt giá trị 120.9 tỷ USD. Như vậy lũy kế xuất siêu đạt 1.59 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2018 là 3.36 tỷ USD.

Nhập khẩu Máy móc thiết bị, một chỉ báo quan trọng cho hoạt động sản xuất, tăng +13.2% đạt giá trị 17.6 tỷ USD. Nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào cho ngành Năng lượng tiếp tục tăng mạnh như Dầu thô, Than đá, Quặng.
Giá trị NK Dầu thô tăng gấp 3.5 lần cùng kỳ năm ngoái, đạt 2.1 tỷ USD để phục vụ hoạt động của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. Nhờ đó, nhập khẩu Xăng dầu giảm mạnh -42% xuống 2.7 tỷ USD trong khi xuất khẩu Xăng dầu tăng nhẹ +0.7% đạt 1.02 tỷ USD.

Nhập khẩu Than tăng +100% về lượng và +65% về giá trị, đạt 2 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm. Nhu cầu Than ngày càng tăng cao để phục vụ các nhà máy nhiệt điện than bùng nổ trong những năm gần đây.

Nhập khẩu Quặng tăng cao từ năm 2017 với việc nhà máy thép Formosa đi vào sản xuất và tiếp tục tăng +52% đạt 810 triệu USD trong 6T2019 giúp nhập khẩu Sắt thép giảm (-2.2% trong 6T2019). Nhập khẩu Phế liệu thép đã giảm đáng kể trong nửa đầu năm 2019 (-13.6%) nhưng vẫn đạt giá trị 762 triệu USD.

Nhập khẩu Điện thoại và linh kiện giảm -2.65% trong 6 tháng nhưng chủ yếu giảm trong quý 1 (-16%), sang quý 2 nhập khẩu tăng +14%. Điều này củng cố cho sự hồi phục của xuất khẩu điện thoại trong ít nhất là quý 3, từ đó hỗ trợ cho tăng trưởng kinih tế nói chung.

Nhập khẩu nguyên liệu dược phẩm giảm tốc và chỉ tăng +2.8% trong 6T2019 trong khi nhập khẩu Dược phẩm tăng +11.5%.

Nhập khẩu các nguyên phụ liệu cho ngành dệt may cũng đang ở mức thấp nhất kể từ năm 2017. Nhập khẩu Bông giảm -3.9%, Xơ, sợi dệt tăng +5.3%, Vải tăng +4.7% (cùng kỳ tăng +24.1%, +29.6% và +14.3%). Trong bối cảnh Việt Nam chưa chủ động được nguồn nguyên liệu cho Dệt may với 70% lượng vải phải nhập khẩu, nhập khẩu nguyên liệu yếu là tín hiệu không mấy tích cực cho ngành.



Xuất khẩu sang Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, trái ngược các thị trường còn lại

Trong 38 mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ 6 tháng đầu năm, chỉ có 10 mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm mà chủ yếu là các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, điều, tiêu, chè, cao su. Phần lớn các mặt hàng đều đạt mức tăng trưởng rất tốt, đáng kể như Điện thoai +81.8%, Máy vi tính +76.8%, Máy móc thiết bị +52%, Phương tiện vận tải +26.7%, Túi xách +29.7%, Giày dép +15.4%, Gỗ +32.9%. Những mặt hàng này đều chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng giá trị xuất khẩu, giúp tổng giá trị XK sang Hoa Kỳ tăng +27.5% kể từ đầu năm.

Tuy vậy, tăng trưởng ấn tượng của xuất khẩu sang Hoa Kỳ không đủ kéo xuất khẩu của Việt Nam bởi tất cả các thị trường chính khác đều giảm tốc và thậm chí tăng trưởng âm như EU -0.6%, Trung Quốc +1.3%, Hàn Quốc +4.6%, Hong Kong -15.6%.

Xuất khẩu Việt Nam đang được hưởng nhiều ưu đãi với 12 FTAs đang có hiệu lực kể cả CPTPP, cùng với 4 FTAs đang trong quá trình đàm phán. Tuy nhiên, để tận dụng được những ưu đãi này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực cải thiện năng lực sản xuất để mở rộng thị trường, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nhiều quốc gia đang tăng trưởng chậm lại khiến sức cầu suy yếu.



Tóm lại, từ số liệu quý 2 và 6 tháng đầu năm có thể hy vọng xuất khẩu Việt nam sẽ tiếp tục có cải thiện trong quý 3 nhờ mặt hàng chủ lực là Điện tử, Điện thoại. Tín hiệu gia tăng nhập khẩu máy móc và nhiều nguyên liệu đầu vào cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp sẽ có tiến triển. Đây là một tín hiệu quan trọng bởi trong quý 2 ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã tăng trưởng chậm lại. 

Dẫu có hy vọng, tăng trưởng toàn cầu yếu và những hàng rào kỹ thuật, đặc biệt là từ Trung Quốc sẽ còn kìm hãm xuất khẩu của Việt nam, ít nhất là trong năm 2019. Các hiệp định thương mại là chưa đủ để tạo lợi thế nổi trội trong cuộc cạnh tranh giành thị phần với các quốc gia khác. Sự năng động của các doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp trong nước, mới là nhân tố quyết định để tận dụng được các cơ hội đến từ FTAs hay chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.

Điều đáng mừng là chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân từ Nghị quyết 10 đã và đang mang lại kết quả rõ rệt. Số liệu tăng trưởng đầu tư từ khối tư nhân (+16.4%) song hành với số liệu tăng trưởng nhập khẩu máy móc thiết bị khối trong nước (+18.6%) cho thấy sự vươn lên nhanh chóng của khối tư nhân. Những khó khăn về thị trường xuất khẩu chỉ là trước mắt. Nền tảng vững chắc đến từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, với nòng cốt là khối tư nhân mới thực sự là hứa hẹn cho tăng trưởng của Việt nam trong tương lai không xa.

(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)