TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ Việt nam tháng 9 2019

Ngày: 08/10/2019 01:31 - Lượt xem: 136

- Một tháng lắng dịu nhưng yếu tố bất định đang làm gia tăng rủi ro của thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu
- Việc giảm lãi suất điều hành đã khiến lãi suất giảm sâu trên liên ngân hàng nhưng chưa lan tỏa được xuống thị trường 1
- Tăng trưởng tín dụng chững lại trong quý 3
- VND – đồng tiền hiếm hoi giữ giá ổn định suốt từ đầu năm đến nay

Thị trường tiền tệ

Một tháng lắng dịu nhưng yếu tố bất định đang làm gia tăng rủi ro của thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu

Những tổn hại với nền kinh tế Trung Quốc trong cuộc đối đầu với Mỹ đang ngày càng rõ nét, các chỉ số về sản xuất công nghiệp, bán lẻ đều thấp hơn kỳ vọng, tín dụng tăng trưởng yếu, Thủ tướng Trung Quốc thừa nhận rằng tăng trưởng kinh tế 2019 khó đạt được 6%. Để tránh phải trải qua kỳ nghỉ lễ quốc khánh u ám, Trung Quốc đã có các động thái “xuống thang” với thông báo miễn thuế trong vòng 1 năm với 16 mặt hàng Mỹ đang bị áp thuế 25%, cử phái đoàn cấp thấp tới Washington và đưa ra kế hoạch nhập khẩu đậu tương và thịt lợn từ Mỹ. Hai bên tuyên bố nối lại đàm phán cấp cao vào ngày 10-11/10.

Tuy vậy, triển vọng về một thỏa thuận Mỹ- Trung là không cao vì có những vấn đề mấu chốt khó có thể giải quyết và phía Mỹ thì tuyên bố không chấp nhận thỏa thuận một phần. Cũng nên nhớ rằng, ngay trong ngày đầu tiên của tháng 9, hai bên đã tăng thuế thêm một nấc đối với hàng hóa của nhau. Cuộc đàm phán lần này có vẻ như chỉ là một kỳ nghỉ giữa hiệp để cả hai cùng tính toán lại đường đi nước bước trong trận chiến dài hơi phía trước. Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu vì thế không có nhiều thay đổi, làn sóng nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế tiếp tục lan rộng.

Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) với lần hạ lãi suất thứ 2 trong năm, xuống mức 1.75%-2%/năm, và kỳ vọng FED sẽ hạ lãi suất thêm 1 lần nữa trong năm nay; ECB giảm 0.1% xuống -0.5% và khẳng định sẽ duy trì hoặc giảm tiếp cho đến khi triển vọng lạm phát có cải thiện; Trung Quốc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần thứ 4 trong năm và giảm lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn 1 năm từ 4.25% xuống 4.2%/năm; Nhật Bản, Đài Loan quyết định duy trì lãi suất âm -0.1%/năm. Tính chung trong tháng 9, có tổng cộng 25 NHTW đã cắt giảm lãi suất điều hành và Việt Nam cũng nằm trong số đó.

Dù FED đã chuyển hướng chính sách tiền tệ nhưng có vẻ như tốc độ nới lỏng tiền tệ vẫn không theo kịp các nước khác, chỉ số DXY dao động nhưng vẫn nằm trong kênh tăng, kết thúc tháng 9 ở mức 99.34 – mức cao nhất kể từ tháng 5/2017 đến nay. Các số liệu kinh tế như chỉ số công nghiệp, bán lẻ, lạm phát PCE lõi đến tháng 8 của Mỹ vẫn khá tích cực là cơ sở để FED thận trọng với lộ trình nới lỏng tiền tệ của mình. Tuy vậy, động thái của FED lại phụ thuộc nhiều vào diễn biến cuộc chiến Mỹ - Trung vốn dĩ đã rất khó lường nên thị trường hiện tại rất nhạy cảm và dễ biến động.

Xét riêng tháng 9, tâm lý thị trường lạc quan hơn, các đồng tiền trú ẩn như JPY, CHF giảm giá lần lượt là 1.69% và 0.76%, giá vàng cũng giảm 3.2% trong khi hầu hết các đồng tiền khác hồi phục so với USD. Riêng EUR vẫn nối dài xu hướng mất giá, về mức 1.09USD/EUR – giảm 0.84% MoM và 4.96%Ytd, nền kinh tế Châu Âu đang đứng trước nguy cơ suy thoái do suy giảm sản xuất, các tranh chấp thương mại và sự bất định của Brexit.

dh1964.png

Việc giảm lãi suất điều hành đã khiến lãi suất giảm sâu trên liên ngân hàng nhưng chưa lan tỏa được xuống thị trường 1

Ngày 16/9/2019, NHNN Việt Nam thông báo giảm đồng loạt 25bps đối với lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất OMO và tín phiếu. Đây đều là lãi suất trong các giao dịch giữa NHNN và các NHTM trong đó 2 lãi suất được sử dụng nhiều nhất trong nghiệp vụ thị trường mở là OMO và tín phiếu đã giảm lần lượt về mức 4.5%/năm và 2.5%/năm. Việc giảm lãi suất không mang ý nghĩa là nới lỏng tiền tệ vì NHNN điều hành chính sách tiền tệ trực tiếp thông qua các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (M2) …, không phải qua trung gian là lãi suất điều hành như các nước khác.

Trong bối cảnh thanh khoản trên liên ngân hàng rất dồi dào, NHNN đã hút ròng tổng cộng 85.130 tỷ đồng trong tháng 9 nhưng lãi suất VND vẫn giảm liên tục, về mức 1.88%/năm với kỳ hạn qua đêm, thấp hơn cả lãi suất USD trên liên ngân hàng. Đây là lần đầu tiên sau 13 tháng, chênh lệch lãi suất qua đêm giữa VND và USD trên liên ngân hàng chuyển sang âm.

Dù thanh khoản dư thừa trên liên ngân hàng nhưng vốn huy động từ kênh này chỉ đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn, không dùng để cấp tín dụng nên tính liên thông với thị trường 1 không cao. Hầu hết các NHTM vẫn giữ nguyên mức lãi suất huy động, thậm chí nhiều NHTM bao gồm cả một vài NHTM lớn vừa tăng lãi suất huy động các kỳ hạn dài từ 20-40bps trong tháng qua. Lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn duy trì ở mức 4.3-5.5%/năm với kỳ hạn dưới 6 tháng, 5.5-7.5%/năm với kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng và 6.4-8.1%/năm với kỳ hạn 12-13 tháng. Việc giảm lãi suất điều hành có thể giảm bớt áp lực thanh khoản trong giai đoạn cao điểm cuối năm, giúp lãi suât huy động và cho vay được giữ ổn định nhưng khả năng giảm trong quý 4/2019 là khá thấp.

dh1965.png

Tăng trưởng tín dụng chững lại trong quý 3

Theo thông tin từ NHNN, tính đến ngày 24/9/2019, tổng dư nợ tín dụng tăng trưởng 8.64% Ytd, huy động vốn tăng 9.03% Ytd và tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 8.58% Ytd. Thông thường, con số tăng trưởng thực tế cả 9 tháng sẽ cao hơn. Như năm 2018, số tăng trưởng tín dụng chốt quý 3 là 10.33% Ytd - cao hơn số công bố ngày 20/9/2018 tới 0.81%, chỉ trong 6 ngày làm việc cuối quý. Tuy vậy, dù có đẩy mạnh giải ngân trong 3 ngày làm việc cuối tháng (tính từ 24/9/2019), dự tính con số tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2019 cũng sẽ chỉ quanh 9% Ytd – là mức tăng trưởng thấp nhất so với cùng kỳ 4 năm gần đây, tổng giải ngân tín dụng toàn xã hội trong Q3/2019 ước khoảng 120 nghìn tỷ đồng – thấp hơn nhiều so với mức 226 nghìn tỷ đồng trong Q1/2019 và 305 nghìn tỷ đồng trong Q2/2019.

Về cơ cấu tín dụng, theo số liệu đến tháng 7/2019 từ NHNN, hầu hết các lĩnh vực đều tăng trưởng yếu hơn so với cùng kỳ năm 2019 trong đó lĩnh vực công nghiệp và thương mại ghi nhận mức tăng trưởng chỉ 5.92% và 8.02% Ytd – thấp hơn rất nhiều so với mức 8.21% và 12.31% Ytd của 7/2018. Các lĩnh vực nông lâm thủy sản, xây dựng, vận tải và viễn thông đều tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Duy chỉ có lĩnh vực hoạt động dịch vụ khác tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt 9.55% Ytd – cao hơn nhiều so với 7.41% Ytd của tháng 7/2018 và tín dụng tiêu dùng cũng được xếp vào nhóm này.

Trái lại, huy động tăng trưởng khá tốt trong Q3.2019 sau 2 quý trước đó luôn tăng trưởng thấp hơn tín dụng và thấp hơn cùng kỳ 2018. CPI 9 tháng đầu năm 2019 tăng trưởng 2.5% YoY, là mức thấp hơn khá nhiều so với các năm trước trong khi lãi suất huy động bình quân cao hơn, lãi suất thực dương tăng mạnh từ khoảng 3.4%/năm của năm 2018 lên 4.8% trong 9 tháng 2019, giúp kênh tiền gửi trở nên hấp dẫn.

Đầu ra tín dụng còn yếu trong khi mặt bằng lãi suất huy động cao hơn, bức tranh lợi nhuận quý 3/2019 của các ngân hàng sẽ khó bằng được như quý trước đó.

dh1966.png

VND – đồng tiền hiếm hoi giữ giá ổn định suốt từ đầu năm đến nay

Trong khi các đồng tiền chủ chốt đều biến động mạnh, có những đồng tiền mất giá tới 8-11% (như KWR, SEK) nhưng cũng có những đồng tiền lên giá 5-7% (như RUB, THB) so với USD, VND trở thành một trong những đồng tiền hiếm hoi có tỷ giá ổn định so với USD. Từ đầu năm đến nay, VND có một lần tạo sóng từ cuối tháng 4 đến hết tháng 5 nhưng mức tỷ giá mua vào của các ngân hàng ở đỉnh sóng cũng chỉ tăng 0.84% so với cuối năm 2018, ở mức 23.360đ/USD, sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Ngay cả khi áp lực rất lớn và đột ngột đến từ tỷ giá USDCNY vượt qua ngưỡng 7.0 và CNY liên tục giảm giá, mức giảm lên tới gần 4% chỉ trong tháng 8/2019; VND vẫn đi ngang, thậm chí còn giảm.

Tính riêng tháng 9, tỷ giá USDVND tăng 10đ/USD trên ngân hàng lên mức 23.140/23.260 nhưng lại giảm 30đ/USD trên thị trường tự do, về mức 23.180/23.205. So với thời điểm cuối năm 2018, tỷ giá giao dịch USD/VND đã giảm 0.11% trên ngân hàng và khi giảm tới 0.39% trên thị trường tự do. FDI giải ngân trong tháng 9/2019 đạt 2.26 tỷ USD, +13% YoY và 60.3% MoM; lũy kế 9M2019 đạt 14.2 tỷ USD, vốn FDI đăng ký cũng tăng mạnh lên mức 26.2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa trong 9 tháng 2019 thặng dư cao nhất từ trước đến nay, tới 7.1 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư gián tiếp và kiều hối cũng khá tích cực khiến cho nguồn cung ngoại tệ trong quý 3 rất dồi dào. Bất chấp chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng giảm mạnh về quanh mức 0, tỷ giá vẫn đi ngang.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lại liên tục được điều chỉnh tăng, mức tăng tổng cộng 9 tháng 2019 lên tới 335đ/USD – tương đương 1.47% Ytd, lên mức 23.160đ/USD. Như vậy, các tỷ giá điều hành gồm tỷ giá trung tâm, tỷ giá mua vào – bán ra của NHNN đều đang ở mức cao hơn so với tỷ giá giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi để NHNN mua thêm ngoại tệ, gia tăng dự trữ ngoại hối. Chúng tôi cho rằng, khi nguồn ngoại tệ dư thừa được hút bớt, tỷ giá cuối năm có thể sẽ nhích tăng, tiệm cận về tỷ giá mua vào của NHNN.

dh1967.png

Thị trường trái phiếu

Đà giảm của lợi tức TPCP nối dài trên sơ cấp nhưng chững lại trên thứ cấp

Trong tháng 9, KBNN gọi thầu 2 phiên với khối lượng trúng thầu chỉ là 5.950 tỷ đồng, là tháng gọi thầu ít nhất kể từ tháng 10/2018 trở lại đây. Tính chung cả 9 tháng 2019, KBNN phát hành gần 154 nghìn tỷ đồng, chỉ tương đương 59.2% kế hoạch cả năm trong đó lượng phát hành của riêng quý 3 là 48.879 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư công giải ngân 9 tháng năm 2019 ước đạt 192 nghìn tỷ đồng, bằng 45.17% kế hoạch Quốc hội giao và thấp hơn so với cùng kỳ 2018. Các dự án lớn nằm trong kế hoạch sử dụng vốn TPCP như đường cao tốc Bắc – Nam, cảng hàng không quốc tế Long Thành… đều chậm triển khai nên KBNN cũng hạn chế phát hành mới.

Nguồn cung giảm mạnh trong hai tháng gần đây trong khi nhu cầu vẫn cao, khối lượng đăng ký luôn gấp khoảng 4-5 lần lượng gọi thầu, đã khiến cho lãi suất trúng thầu tiếp tục giảm từ 12-22bps ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 9. Hiện lãi suất trúng thầu các kỳ hạn 5, 7, 10, 15, 20, 30 lần lượt là 3.15%, 3.54%, 3.97%, 4.24%, 4.9% và 5.23%/năm – giảm lần lượt là 67bps, 81bos, 113bps, 106bps, 70bps và 57 bps so với thời điểm đầu năm 2019.

dh1968.png

Đón nhận thông tin giảm các lãi suất điều hành của NHNN, lợi tức TPCP trên thứ cấp tiếp tục giảm khá mạnh trong nửa đầu tháng 9 nhưng sau đó chững lại và nhích tăng nhẹ vào cuối tháng. Lợi tức TPCP tính từ đầu năm đến nay đã giảm 1.3-1.5%/năm ở các kỳ hạn 5 năm trở xuống và giảm 1%/năm ở các kỳ hạn trên 5 năm, giá trái phiếu đã tăng khá mạnh so với thời điểm đầu năm, các bên gia tăng chốt lời, hiện thực hóa lợi nhuận nên lợi tức nhích tăng lên.

Trong tháng, khối ngoại giao dịch đan xen với 2 tuần mua ròng và 2 tuần bán ròng nhưng tính chung lại vẫn mua ròng 2.240 tỷ đồng trong đó hơn 1.700 tỷ đồng mua ròng ở kỳ hạn 25-30 năm. Đáng chú ý, trong tuần giao dịch cuối tháng 9, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng 3.011 tỷ đồng – mức kỷ lục tính theo tuần kể từ 2013 đến nay. Tính từ đầu năm đến nay, NĐTNN đã mua ròng tất cả các tháng, tổng lượng mua ròng lũy kế là 15.2 nghìn tỷ đồng TPCP trên thị trường thứ cấp.

dh1969.png

Thị trường TPDN sơ cấp trong tháng 9 chủ yếu là của các ngân hàng thương mại

Trong tháng 9/2019 có 25.516 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành mới trong đó có tới 21.071 tỷ đồng (tương đương 82.6%) là trái phiếu do các NHTM phát hành. Những ngân hàng phát hành nhiều nhất trong tháng 9 là TCB, CTG, BID, ACB, OCB…

Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, tổng lượng TPDN phát hành là 155.306 tỷ đồng (số liệu không bao gồm các đợt phát hành riêng lẻ trong 3 tháng đầu năm do HNX không công bố) trong đó các NHTM vẫn là tổ chức phát hành lớn nhất với tổng lượng phát hành hơn 75.936 tỷ đồng (chiếm 49%), đứng sau là các doanh nghiệp bất động sản (47.372 tỷ đồng – chiếm 26.4%), còn lại là các công ty phát triển hạ tầng, công ty chứng khoán và các doanh nghiệp khác.

dh1970.png

Tính toàn thị trường TPDN trong 9 tháng 2019, lãi suất bình quân là 8.4%/năm và kỳ hạn bình quân là 3.68 năm trong đó lãi suất và kỳ hạn bình quân của nhóm ngân hàng là 6.82%/năm và 3.82 năm; của nhóm bất động sản là 10.17%/năm và 3.42 năm.

Tháng 9 là tháng phát hành nhiều nhất của các NHTM tính từ đầu năm đến nay. Lãi suất phát hành bình quân của trái phiếu ngân hàng trong tháng 8 và tháng 9 là 7.1% và 7.0% - cao hơn so với các tháng trước đó chủ yếu là do các ngân hàng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài hơn. Thay vì chỉ phát hành trái phiếu 2-3 năm như các tháng trước, trong tháng 8 và 9/2019, các NHTM đã đẩy mạnh phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm. Các ngân hàng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài nhiều nhất là Vietinbank, BIDV, Seabank.

Trái lại, lãi suất bình quân trong tháng 9 của trái phiếu bất động sản lại giảm mạnh xuống 8.1% tuy nhiên lượng phát hành trong tháng chỉ là 1.797 tỷ đồng của 4 tổ chức phát hành là công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng, Nova Tân Gia Phát, CTCP Quản lý và Phát triển Gia Khánh và CTCP Sunshine Marina Nha Trang. Ngoại trừ lô trái phiếu 460 tỷ của Gia Khánh có lãi suất thả nổi với kỳ đầu là 10.5%/năm, các trái phiếu còn lại đều có lãi suất khá thấp, đặc biệt là 2 lô của Nova Tân Gia Phát chỉ có lãi suất 6%/năm và được các cá nhân trong nước mua toàn bộ. Chỉ có khoảng 62% lượng chào bán được mua, hầu hết lô phát hành đều dư khá nhiều trong đó dư nhiều nhất là của Phú Mỹ Hưng khi chỉ phát hành đươc 800 tỷ đồng trên tổng cộng 1.700 tỷ đồng chào bán, bên mua 100% là các nhà đầu tư nước ngoài.

dh1971.png

Thị trường chứng khoán

TTCK Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019 là một bức tranh đa chiều, trong đó VN Index ghi nhận trạng thái vận động khác nhau theo từng quý. Chỉ số tăng điểm tích cực trong giai đoạn Quý 1, giao dịch giằng co và giảm nhẹ trong Quý 2 trước khi tăng trở lại vào Quý 3. VN Index vẫn hình thành các nhịp tăng giảm xen kẽ nhau, phản ánh sự cẩn trọng của nhà đầu tư trong bối cảnh thị trường đang đối mặt với nhiều biên số khó đoán định. Kết thúc tháng 9, VN Index đang dao động quanh ngưỡng tâm lý 1000 điểm.

Chính sách cắt giảm lãi suất của các NHTW và nhóm cổ phiếu trụ cột đồng thuận tăng điểm là hai yếu tổ quan trọng hỗ trợ cho VN Index trong Quý 3, bên cạnh đó kế hoạch xây dựng các chỉ số chứng khoán mới cùng tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang được đẩy nhanh cũng góp phần nâng đỡ tâm lý nhà đầu tư.

Nhiều NHTW cắt giảm lãi suất, kỳ vọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Chỉ tính riêng trong Q3, FED đã có 2 lần giảm lãi suất, lần lượt trong cuộc họp tháng 7 và tháng 9. Khung lãi suất hiện tại của FED nằm trong biên độ 1.75%-2%.

Không chỉ Cục dự trữ liên bang Mỹ, NHTW châu Âu cũng khởi động một chương trình nới lỏng tiền tệ mới. Tổ chức này hạ lãi suất cơ sở từ -0.4% về -0.5%, đồng thời lên kế hoạch thực thi gói nới lỏng định lượng mới, dự kiến mua 20 triệu EUR giá trị trái phiếu/tháng, bắt đầu từ tháng 11 năm nay.

FED và ECB giảm lãi suất điều hành, trong khi kinh tế vĩ mô Việt Nam tiếp tục ổn định, lạm phát tỷ giá được kiểm soát là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định hạ lãi suất điều hành từ ngày 16/09/2019. Cổ phiếu Ngân hàng đồng thuận tăng mạnh trong ngày NHNN công bố thông tin trên. Cổ phiếu VCB, TCB, BID, CTG tăng trên 3%.

Về dài hạn, chính sách điều hành lãi suất của NHNN đang tạo ra kỳ vọng sẽ giảm lãi suất huy vộng và lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Ngoài nhóm cổ phiếu ngân hàng, nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khác cũng tăng điểm, nâng đỡ cho vận động của chỉ số.Nếu như trong Q2/2019, chỉ có 8 cổ phiếu trong nhóm VN30 tăng điểm thì bước sang quý 3, con số này là 19 cổ phiếu. Xét về mức đóng góp cho VN Index, dẫn đầu là VCB, VHM, BID, GAS, VNM, MWG,..

VCB tăng 16.45% so với thời điểm cuối Quý 2, hiện đang thiết lập vùng đỉnh lịch sử trong những phiên đầu tháng 10/2019. Tính riêng tháng 9, VCB cũng là cổ phiếu đóng góp lớn nhất cho chiều hướng đi lên của VN Index, xếp tiếp theo là VNM, GAS, TCB, VHM…

dh1972.png

Thông tin hỗ trợ về mặt vĩ mô trong Q3/2019.

Thứ nhất,Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 26/2019/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đến hết năm 2020. Tổng cộng có 93 doanh nghiệp nằm trong danh mục phê duyệt, gồm có các doanh nghiệp đầu ngành tại Việt Nam như: Agribank, VICEM, Vinachem, VNPT, Mobifone….

Danh mục cổ phần hóa hứa hẹn sẽ mang lại lượng hàng hóa chất lượng cho thị trường chứng khoán trong tương lai, đồng thời gia tăng chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhờ sự tham gia của đa dạng nhà đầu tư.

Thứ hai, các chỉ số mới của sàn HOSE như VN Diamond Index (dành cho nhóm cổ phiếu hết room), hay Vietnam Leading Financial Index và Vietnam Select Sector Index (dành cho cổ phiếu Tài chính), tạo ra kỳ vọng thu hút dòng vốn ETF mới tham gia vào thị trường.

Đan xen với các yếu tố kể trên, câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán mang đến cho nhà đầu tư nhiều cảm xúc. FTSE Rusell công bố kết quả phân loại thị trường năm 2019 vào ngày 27/09, theo đó Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm Frontier Markets, đồng thời thuộc danh sách theo dõi nâng hạng lên Emerging Secondary cho các kỳ đánh giá tiếp theo.

Thông tin trên mặc dù kém khả quan nhưng không ảnh hưởng tiêu cực tới diễn biến chỉ số do đại bộ phận nhà đầu tư không kỳ vọng nhiều ở đợt đánh giá năm 2019 của FTSE Rusell. Hiện tại, nhà đầu tư đang chờ đợi Luật chứng khoán (sửa đổi) được thông qua, đi cùng với nhiều biện pháp cải thiện chất lượng thị trường như: điều chỉnh phương thức thanh toán, gia tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tăng thanh khoản, đưa ra các sản phẩm mới … Việc FTSE Rusell chưa nâng hạng đợt này sẽ tạo động lực để các thành viên thị trường cùng nỗ lực để nâng cao chất lượng TTCK. VN Index tăng thêm 0.72% trong ngày đón nhận thông tin từ FTSE Rusell

Ở chiều ngược lại, thị trường chứng khoán vẫn đối mặt với không ít thách thức

Diễn biến phức tạp của căng thẳng thương mại Mỹ - Trung. Bên lề hội nghị thượng đỉnh G20 diễn ra vào cuối tháng 6/2019, cuộc gặp mặt giữa tổng thống Hoa Kỳ D.Trump và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tưởng chừng như sẽ làm dịu đi căng thẳng thương mại, nhưng thực tế mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc không những không được cải thiện, mà còn xấu đi trong giai đoạn tiếp theo.

Sau khi cảnh báo Trung Quốc từ đầu tháng 8 về tiến độ thực hiện các cam kết thương mại, Hoa Kỳ chính thức áp dụng chính sách thuế quan mới đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Cụ thể, thêm 112 tỷ USD giá trị hàng hóa sẽ chịu mức thuế suất tự vệ 15% bắt đầu từ ngày 01/09. Phía Bắc Kinh đáp trả bằng cách áp thuế 5-10% đối với 75 tỷ USD hàng hóa có xuất xứ từ Mỹ, áp dụng theo 2 giai đoạn, từ 01/09 và từ 15/12/2019.

Nỗ lực quay lại đàm phán dẫn đến cuộc gặp mặt giữa đại diện hai bên tại Washington, diễn ra trong hai ngày 10/10. Tuy vậy, chưa có nhiều diễn biến rõ ràng để khẳng định hai bên sẽ đạt được thỏa thuận thương mại mới. Cần lưu ý, ngày 15/10 là thời hạn chính quyền Hoa Kỳ áp dụng mức thuế mới 30% đối với lượng hàng hóa 250 tỷ USD đã áp thuế 25% trước đó.

Shanghai Composite vận động giằng co trong Q3, nếu xét về mặt điểm số, chỉ số đại diện của chứng khoán Trung Quốc mất 2.47% giá trị. Riêng tháng 8, khi thương chiến Mỹ - Trung bắt đầu leo thang, Shanghai Composite và S&P 500 đều giảm lần lượt 1.6% MoM và 1.87% MoM. Tâm lý giao dịch chịu ảnh hưởng, VN Index mất gần 1% giá trị trong tháng 8.

dh1973.png

NĐTNN tiếp tục bán ròng qua kênh khớp lệnh trên HOSE. Nếu như giai đoạn đầu năm khối ngoại tích cực mua ròng, thì diễn biến này đã đảo chiều trong những tháng cuối quý 3

Cụ thể, riêng trong Q3, khối ngoại bán ròng 556 tỷ đồng qua kênh khớp lệnh trên sàn HOSE. Tính thêm giao dịch qua kênh thỏa thuận, NĐTNN vẫn mua ròng nhẹ 64 tỷ đồng. PLX dẫn đầu top mua ròng với quy mô 1.47 nghìn tỷ đồng, xếp tiếp theo là VIC, AST, BID, NVL. Ở chiều ngược lại, khối ngoại chủ yếu bán ròng HPG (- 814 tỷ đồng), VRE (-420.6 tỷ đồng).

Dòng vốn ETF chững lại sau giai đoạn khởi sắc đầu năm. Thống kê đối với tổng giá trị giao dịch của các quỹ VFM VN30, Van Eck ETF và DB FTSE, xu hướng mua ròng được duy trì từ đầu năm đến hết quý 2, trước khi giao dịch của nhóm này chậm dần và đảo chiều xu hướng trong quý 3. Cụ thể, giá trị bán ròng là 1.19 nghìn tỷ đồng trong quý 3, riêng tháng 9 bán ròng 280 tỷ đồng.

Premia ETF tham gia thị trường Việt Nam từ tháng 7/2019, mặc dù vẫn duy trì trạng thái mua ròng, tuy nhiên quy mô giao dịch và mật độ giao dịch chỉ ở mức khiêm tốn. Trong tháng 9, giao dịch của quỹ chỉ được ghi nhận trong 1 phiên duy nhất, với giá trị mua ròng đạt 32.8 tỷ đồng.

Quy mô bán ròng của các ETF trong quý 3 có thể không phải là quá lớn nhưng ẩn chứa đằng sau đó là tín hiệu thay đổi chiến lược đầu tư trên toàn cầu theo hướng rời bỏ các tài sản rủi ro, chuyển sang các tài sản an toàn trong bối cảnh chiến tranh thương mại phức tạp và triển vọng tăng trưởng kinh tế giảm sút. Những tài sản an toàn như trái phiếu Mỹ, vàng, đồng Yên Nhật đều lên giá trong khi giá hàng hóa cơ bản như dầu thô lại giảm.

dh1974.png

Chịu tác động của các yếu tố kể trên, VN Index diễn biến giằng co trong quý 3 với các chuỗi tăng giảm rõ rệt, chỉ số đóng cửa phiên 30/09 tại mức 996.56 điểm, tăng thêm 4.91% QoQ. VN30 Index tăng 6.78%, đạt 922.89 điểm. Nhóm VN30 ghi nhận mức tăng tốt hơn VN Index nhờ tỷ trọng đóng góp cao hơn của các cổ phiếu MWG và FPT. Hai cổ phiếu tăng tương ứng 36% và 29% QoQ.

Thanh khoản bình quân phiên Q3 trên sàn HOSE đạt 4.16 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 9.8% so với quý 2; đóng góp chủ yếu đến từ mức tăng 11.2% QoQ của GTGD qua kênh khớp lệnh. Tính chung toàn thị trường, thanh khoản quý 3 tăng thêm 10.3% so với quý liền trước.

dh1975.png

Bước sang quý 4, nhà đầu tư tiếp tục đón nhận thêm nhiều thông tin mang lại tác động trái chiều tới các chỉ số chứng khoán

Ở góc độ tích cực, giới tài chính toàn cầu sẽ đón chờ quyết định về lãi suất của FED trong 2 cuộc họp lần lượt diễn ra vào tháng 10 và tháng 12/2019. Số liệu vĩ mô kém khả quan về PMI lĩnh vực sản xuất tháng 9 của Mỹ có thể khiến FED đẩy nhanh tiến trình giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế.

dh1976.png

Đối với các yếu tố trong nước, Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV diễn ra từ ngày 21/10 tới 21/11 sẽ đóng góp những diễn biến quan trọng về mặt vĩ mô, đáng chú ý là khả năng thông qua Luật chứng khoán (sửa đổi), mang lại những tác động trọng yếu tới TTCK, trong ngắn và dài hạn. Riêng tháng 10, kết quả kinh doanh Q3/2019 của các doanh nghiệp niêm yết vốn hóa lớn có thể sẽ định hướng dòng tiền của nhà đầu tư.

Tuy nhiên, thị trường giai đoạn quý cuối năm vẫn đối mặt với không ít rủi ro. Khởi đầu bằng diễn biến khó lường của hội kiến thương mại Mỹ - Trung, sự mở rộng mặt trận thuế quan của Trump, thời hạn Brexit đang đến gần… cho đến nhân tố quan trọng nhất quyết định xu hướng của TTCK là tăng trưởng kinh tế. Sự bất định và các rủi ro chính sách gia tăng khiến thị trường tài chính toàn cầu trở nên rủi ro. TTCK Việt Nam còn chịu áp lực từ tình trạng bán ròng của khối ngoại kéo dài từ tháng 8 đến nay, cùng với ngưỡng tâm lý 1000 điểm.

Chịu ảnh hưởng từ những yếu tố nêu trên, VN Index có khả năng vẫn duy trì trạng thái giằng co trong Quý 4/2019. Không loại trừ khả năng VN Index có thể vượt ngưỡng cản 1000 điểm nhờ một vài cổ phiếu trụ cột tăng cục bộ, tuy vậy cung chốt lời sẽ gia tăng theo đà đi lên của chỉ số, như những gì đang diễn ra trong các phiên giao dịch đầu tháng 10.

(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)