TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

VNM: Chờ đợi các yếu tố mới thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận

Ngày: 18/11/2019 04:23 - Lượt xem: 163

Khuyến nghị: Phù hợp thị trường (không đổi)
Giá mục tiêu 1 năm: 139.000 Đồng/cp (từ 130.000 Đồng/cp)
Tăng: +13%
Giá hiện tại (tại ngày 15/11/2019): 123.000 Đồng/cp

Tin cập nhật
VNM vừa công bố kết quả kinh doanh Q3/2019, với 14,29 nghìn tỷ đồng (+4% YoY) doanh thu thuần và 2,68 nghìn tỷ đồng (+4,5% YoY) lợi nhuận ròng. Doanh thu trong nước tăng 4,5% YoY, trong khi doanh thu xuất khẩu giảm 1% YoY và doanh thu ở nước ngoài (Driftwood và Angkor) tăng 6% YoY. Kết quả kinh doanh Q3/2019 không như kỳ vọng của chúng tôi, vì chúng tôi ước tính tăng trưởng doanh thu trong nước cao hơn ở mức 5 - 7% YoY theo kế hoạch của ban lãnh đạo vào đầu năm. Cần lưu ý rằng VNM đã tăng 1-3% giá bán trung bình cho các sản phẩm trong tháng 4 và tháng 8/2019. Nếu không bao gồm tác động của việc tăng giá bán trung bình và doanh thu từ chương trình sữa học đường (VNM bắt đầu ghi nhận trong Q4/2018), sản lượng nội địa thực tế trong Q3 không đổi so với cùng kỳ năm trước. Thị phần của Vinamilk tăng nhẹ trong Q3/2019, do tăng trưởng tiêu thụ sản phẩm từ sữa theo giá trị chỉ đạt 2,1% YoY theo Nielsen.
Biên lợi nhuận gộp trong nước giảm còn 47,7% trong Q3/2019, thấp hơn một chút so với Q3/2018 (48,8%) và Q2/2019 (49,3%), mặc dù giá bán trung bình đã tăng 1-3% YoY. Chúng tôi cho rằng chi phí nguyên liệu sữa tăng đã ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của VNM trong quý. Biên lợi nhuận gộp chung là 47% trong Q3/2019 (so với 48% trong Q2/2019 và 47,3% trong Q3/2018). Biên lợi nhuận gộp của các công ty con ở nước ngoài giảm do biên lợi nhuận của Driftwood giảm, chịu ảnh hưởng bởi giá đầu vào tăng mạnh, trong khi biên lợi nhuận của các mảng kinh doanh khác (đường, trang trại bò sữa) tăng do biên lợi nhuận của tổ hợp trang trại VNM tại Thanh Hóa cải thiện.
Lũy kế 9T2019, VNM đạt 42,07 nghìn tỷ đồng doanh thu thuần (+6,4% YoY) và 8,38 nghìn tỷ đồng lợi nhuận ròng (+ 5,8% YoY), hoàn thành 75% và 80% kế hoạch năm. Theo ban lãnh đạo, tăng trưởng 9T2019 phản ánh sát triển vọng cả năm.

Tác động
Chúng tôi cập nhật ước tính để phản ánh tăng trưởng doanh thu thấp hơn ước tính trong năm 2019. Chúng tôi điều chỉnh giảm tăng trưởng doanh thu trong nước từ 8,6% xuống 7%. Chúng tôi ước tính doanh thu và lợi nhuận ròng năm 2019 đạt 56,05 nghìn tỷ đồng (+6,6% YoY) và 10,85 nghìn tỷ đồng (+6,3% YoY), tương ứng giảm 2% và 1% so với ước tính trước.
Năm 2020, các giả định chính của chúng tôi bao gồm: (1) tăng trưởng doanh thu trong nước đạt 7% YoY (tăng 5-6% về sản lượng tiêu thụ và 2-3% về giá do thay đổi cơ cấu sản phẩm, cũng như thêm doanh thu từ sản phẩm mới ra mắt năm 2019 và các chương trình sữa học đường); (2) tăng trưởng doanh thu nước ngoài đạt 10-12% YoY; (3) giá nguyên liệu tăng 4% tính theo đồng VND; (4) tỷ lệ chi phí SG&A/ doanh thu là 25,5% (so với 25,2% vào năm 2019) và (4) thuế thu nhập doanh nhiệp ở mức 18% (so với 17,5% vào năm 2019). Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm 2,2% ước tính lợi nhuận ròng 2020.
Do đó, chúng tôi ước tính VNM đạt 8,1% và 6,9% YoY tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng năm 2020. Thuế suất thuế TNDN sẽ tăng dần lên 20% vào năm 2022, đây là yếu tố có thể làm giảm tăng trưởng lợi nhuận ròng.

Khuyến nghị
VNM đang giao dịch ở mức PE và EV/EBITDA là 23x và 14,3x cho năm 2019; 21,5x và 13,2x cho năm 2020. Chúng tôi cho rằng đây không phải mức đắt, nhưng vẫn chưa hấp dẫn do triển vọng tăng trưởng chưa khả quan của VNM (CAGR lợi nhuận ròng giai đoạn 2018-2023 chỉ ở mức 6,5%). Mặc dù vậy, chúng tôi tăng giá mục tiêu 1 năm lên 139.000 đồng (từ 130.000 đồng) khi chúng tôi chuyển cơ sở định giá sang EPS 2020 (từ 2019) và áp dụng PE mục tiêu không thay đổi là 23x, thấp hơn 15% so với trung bình trong khu vực. Chúng tôi sẽ tăng PE mục tiêu khi nhận thấy có thay đổi tích cực về các yếu tố cơ bản. Do đó, chúng tôi duy trì khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG đối với cổ phiếu.
Rủi ro tăng đối với ước tính:Tăng trưởng doanh thu cao hơn ước tính và giá nguyên liệu thô thấp hơn ước tính.
Rủi ro giảm ước tính:giá nguyên liệu thô cao hơn ước tính.

Phân tích chi tiết KQKD Q3/2019

(tỷ đồng)

3Q19

3Q18

YoY

2Q19

QoQ

% KH 2019

TSLN

3Q19

3Q18

2Q19

2018

Doanh thu thuần

14.291

13.735

4,0%

14.599

-2,1%

74,7%

Lợi nhuận gộp

6.723

6.494

3,5%

7.014

-4,1%

47,0%

47,3%

48,0%

46,8%

Thu nhập từ hoạt động kinh doanh

3.121

2.810

11,1%

3.121

0,0%

21,8%

20,5%

21,4%

22,9%

EBIT

3.282

3.046

7,7%

3.575

-8,2%

23,0%

22,2%

24,5%

23,3%

EBITDA

3.782

3.466

9,1%

4.048

-6,6%

26,5%

25,2%

27,7%

26,4%

Lợi nhuận trước thuế

3.254

3.034

7,2%

3.550

-8,3%

22,8%

22,1%

24,3%

22,9%

Lợi nhuận ròng

2.677

2.560

4,5%

2.904

-7,8%

79,9%

18,7%

18,6%

19,9%

19,4%

Lợi nhuận ròng thuộc về cổ đông

2.690

2.560

5,1%

2.899

-7,2%

18,8%

18,6%

19,9%

19,5%

Nguồn: Công ty, SSI

Doanh thu sữa trong nước của VNMđạt 11,63 nghìn tỷ đồng trong Q3/2019 (+ 4,5% YoY). Nếu không bao gồm tác động của việc tăng 1-3% giá bán trung bình trong tháng 4 và tháng 8/2019, cũng như doanh thu từ chương trình sữa học đường (VNM bắt đầu ghi nhậntừ Q4/2018), sản lượng tiêu thụ trong nước thực tế trong Q3 không đổi so với cùng kỳ năm trước.
Trong danh mục sản phẩm của VNM, công ty nhấn mạnh sữa chua và sữa nước có tăng trưởng cao hơn so với sữa bột và sữa đặc, mặc dù không chia sẻ thêm thông tin cụ thể. Doanh thu mảng kem cũng đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số trong 9T2019, nhưng tăng trưởng doanh thu vẫn ở mức thấp (1-2% tổng doanh thu).
Chúng tôi nhận thấy các công ty cùng ngành của VNM cũng tăng giá bán trong 9T2019, như TH True Milk và Sữa Cô gái Hà Lan. Tuy nhiên, Nutifoods giảm giá bán trong khi Mộc Châu duy trì giá hiện tại.
Mộc Châu và Vinasoy đạt mức tăng trưởng doanh thu 9,7% YoY và 17,2% YoY trong Q3, cao hơn so với VNM nhờ cơ sở so sánh thấp trong năm 2018. Trong khi đó, tăng trưởng lượng tiêu thụ sản phẩm từ sữa cả nước trong Q3/2019 chỉ ở mức 2,1% YoY về giá trị theo Nielsen.

dh2052.png

Doanh thu xuất khẩutrong Q3/2019 đạt 1,29 nghìn tỷ đồng, giảm 1,1% YoY sau khi loại trừ doanh thu Angkor Milk (công ty mẹ VNM xuất khẩu một số sản phẩm cho Angkor để bán tại thị trường Campuchia; ghi nhận là doanh thu của Angkor, thay vì là doanh thu xuất khẩu). Lũy kế 9T2019, doanh thu xuất khẩu đạt 3,52 nghìn tỷ đồng (+ 8.2% YoY). Tăng trưởng xuất khẩu quý 3 giảm một phần là do cơ sở so sánh cao trong quý 3/2018, tuy nhiên tăng trưởng doanh thu xuất khẩu lũy kế từ 9T2018 vẫn cao hơn kế hoạch của ban lãnh đao trong năm 2019 (Đầu năm 2019, VNM ước tính tăng trưởng doanh thu xuất khẩu đi ngang). Trong khi đó, biên lợi nhuận gộp đạt 61,3% (so với 58,9% trong 9T2018), nhờ sản lượng xuất khẩu sữa bột sang Iraq tăng (cho biên lợi nhuận cao).
Các công ty con ở nước ngoài, bao gồm Driftwood và Angkor, tăng trưởng doanh thu đạt 6% YoY trong Q3/2019 và 12,4% trong 9T2019 nhờ tăng trưởng Angkor Milk mạnh mẽ (+35% YoY trong 9T2019), trong khi doanh thu của Driftwood không đổi so với cùng kỳ năm trước.
Mảng kinh doanh đường & sữa. Chúng tôi ước tính doanh thu khác trong 9T2019 đạt 1,58 nghìn tỷ đồng (-12,2% YoY, chủ yếu do doanh thu đường giảm), với biên lợi nhuận gộp cải thiện đáng kể lên 25% trong 9T2019, so với 11,6% trong 9T2018, nhờ lợi nhuận cải thiện tại tổ hợp trang trại ở Thanh Hóa và trang trại hữu cơ ở Lâm Đồng.
Xu hướng biên lợi nhuận. Biên lợi nhuận gộp của mảng sữa trong nước giảm còn 47,7% trong Q3/2019, thấp hơn một chút so với Q3/2018 (48,8%) và Q2/2019 (49,3%). Nguyên nhân là do chi phí vượt mức tăng 1-3% YoY trong giá bán trung bình. Chúng tôi cho rằng chi phí nguyên liệu sữa tăng đã ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của VNM trong quý. Theo ban lãnh đạo, giá nguyên liệu sữa trong nửa cuối năm 2019 sẽ cao hơn so với nửa đầu năm. Do đó, biên lợi nhuận gộp Q4/2019 có thể thấp hơn một chút so với Q3/2019. Trong 9T2019, biên lợi nhuận gộp của mảng sữa trong nước đạt 47,9% (so với 48,3% trong 9T2018).
Biên lợi nhuận gộp chung đạt 47% trong Q3/2019 (so với 48% trong Q2/2019 và 47,3% trong Q3/2018). Biên lợi nhuận gộp của các công ty con ở nước ngoài giảm từ 25,8% trong Q2/2019 xuống còn 23,4% trong Q3/2019. Điều này là do biên lợi nhuận của Driftwood giảm do giá nguyên liệu tăng, trong khi biên lợi nhuận của các mảng khác (đường, trang trại bò sữa) tăng nhờ biên lợi nhuận của trang trại Thanh Hóa và Lâm Đồng cải thiện. Lũy kế 9T2019, biên lợi nhuận gộp ở mức 47,3%, +64bps YoY. VNM đang chuẩn bị chốt giá đầu vào cho năm sản xuất tiếp theo trong khoảng thời gian này, đặc biệt là khi đến mùa thu hoạch tại Nam bán cầu.
Tỷ lệ chi phí bán hàng trên tổng doanh thu là 22,1% trong 9T2019, so với 22,5% trong 9T2018. Chi phí bán trong quá khứ, tỷ lệ này có xu hướng tăng trong nửa cuối năm và chúng tôi duy trì giả định 23% cho năm 2019 (so với 23,3% vào năm 2018).
Lũy kế 9T2019, VNM đạt 42,07 nghìn tỷ đồng doanh thu thuần (+6,4% YoY) và 8,38 nghìn tỷ đồng lợi nhuận ròng (+ 5,8% YoY), hoàn thành 75% và 80% kế hoạch năm. Theo ban lãnh đạo, tăng trưởng 9T2019 phản ánh sát triển vọng cả năm.
Cập nhật khác
Thị phần. Theo AC Nielsen, về sản lượng tiêu thụ, thị phần của VNM tăng 0,3 pp lên 61,3% vào cuối Q3/2019 (từ 61% vào cuối năm 2018 và 59,1% vào cuối Q3/2018). Là công ty dẫn đầu thị trường, thị phần theo doanh thu của VNM (54,2%) vượt xa các đối thủ khác, như Nutifood (12,1%), TH True Milk (9%), Mộc Châu (2,7%) và IDP (1,3%), dựa trên ước tính năm 2018 của chúng tôi. Với điều kiện thị trường hiện tại, VNM ưu tiên bảo vệ thị phần trước khi tăng thêm (trước đó, VNM đặt mục tiêu tăng thị phần 1pp mỗi năm trong giai đoạn 2018-2021).
Cao cấp hóa và triển khai sản phẩm mới

dh2053.png

Nguồn: Công ty

VNM đã ra mắt 17 SKU mới trong 9T2019 (so với chỉ 10 SKU mới cho cả năm 2018), bao gồm sữa bột Organic Gold, ngũ cốc trẻ em, sữa chua uống Probi vị dứa, sữa chua ăn hữu cơ, sữa chua ăn vị óc chó, sữa óc chó & đậu đỏ, thức uống năng lượng (Vinamilk Power, My Joy) và trà sữa Happy (đồ uống dành cho thanh thiếu niên), sữa gạo, Coco Fresh (nước dừa) và V-fresh Smoothie (sữa chua uống), Kefir (Tháng 10), và sữa công thức sản xuất tại Nhật Bản (tháng 10). Theo ban lãnh đạo, trong khi sữa công thức Organic Gold là một trong những sản phẩm cao cấp nhất trên thị trường (giá cao hơn 15-30% so với các sản phẩm tương đương nhập khẩu như Meiji, Aptamil hoặc Similac IQ Plus của Abbott), thức uống lúa mạch ca cao là để cạnh tranh với Milo (giá My Joy thấp hơn một chút so với Milo) và đã nhận được phản hồi tích cực.
Theo VNM, công ty đang thực hiện cao cấp hóa sản phẩm và phát triển các sản phẩm hữu cơ như sữa tươi, sữa công thức và sữa chua từ nguồn sữa tươi hữu cơ để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng. Trong khi nhập khẩu sữa bột hữu cơ từ Mỹ (thông qua Driftwood), VNM cũng thuê sản xuất gia công tại Nhật Bản sản phẩm sữa công thức cho trẻ em dưới nhãn hiệu “Vinamilk Yoko Gold”, và nhập khẩu trở lại Việt Nam để phục vụ thị hiếu ưa chuộng sữa công thức Nhật củacác bà mẹ Việt Nam. Những động thái này cho thấy VNM đã tích cực tìm kiếm các giải pháp khác nhau để khai thác nhu cầu rộng hơn từ người tiêu dùng nhằm mục đích cuối cùng là tăng doanh thu.
Chương trình sữa học đường. Vinamilk đã trúng thầu 15/17 tỉnh, thành phố (bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh) thông qua đấu thầu công khai giai đoạn 2018-2020 để trở thành nhà cung cấp sữa học đường. Tuy nhiên, công ty chưa công bố quy mô tiềm năng tại TP.HCM (chúng tôi được biết doanh thu hàng năm từ chương trình tại Hà Nội là 1,2 nghìn tỷ đồng/năm).
Thị trường xuất khẩu mới. VNM nằm trong số 5 nhà sản xuất sữa trong nước đủ điều kiện xuất khẩu các sản phẩm sữa sang Trung Quốc (Vinamilk, TH True Milk, Sữa Mộc Châu, Nutifoods và Hanoimilk). Hiện đang chờ phía Trung Quốc cấp mã số xuất khẩu, dự kiến ​​vào tháng 11/2019. Công ty sẽ nhắm vào các thị trường ngách như sữa chua uống, sữa chua ăn, sữa tươi cao cấp (hữu cơ, A2) và sữa công thức cao cấp (hữu cơ, A2) do cạnh tranh gay gắt ở thị trường Trung Quốc. Trung Quốc là một thị trường năng động với những công ty cùng ngành mạnh sẵn có như Mengniu và China Modern Dairy (sữa thông thường), và các thương hiệu nhập khẩu khác cũng tham gia vào thị trường này (đặc biệt chú trọng vào sữa công thức). Để chuẩn bị cho thị trường Trung Quốc, Vinamilk đã giới thiệu bao bì mới cho thị trường sử dụng tiếng Trung Quốc.
Phát triển trang trại.Hiện tại, VNM đang lấy nguồn sữa từ 130.000 con bò (so với 125.000 con bò vào 2018), trong đó gần 30.000 con bò từ các trang trại của VNM (so với 27.000 con vào 2018). VNM có 13 trang trại (4 trang trại hữu cơ), trong đó trang trại ở Lào có triển vọng mở rộng lớn nhờ quỹ đất rộng và điều kiện khí hậu thuận lợi, với mục tiêu 8.000 con bò vào cuối năm 2020, có thể mở rộng lên đến 100 nghìn con bò trong tương lai gần.
Thương vụ mua lạiGTN.VNM hiện đang nắm giữ 41% cổ phần của GTN (GTN: 20.700 đồng, không đánh giá; công ty sở hữu 51% Sữa Mộc Châu) với tổng chi phí đầu tư là 1.478 tỷ đồng, tương đương với giá mua 14.600 đồng /cổ phiếu, và công ty có kế hoạch tăng tỷ lệ sở hữu để nắm quyền điều hành. Gần đây, cổ đông lớn thứ hai của GTN (West Ocean Investment) đã đăng ký bán 41 triệu cổ phiếu GTN (nắm giữ 71 triệu cổ phiếu hiện tại). Do đó, VNM có cơ hội tăng tỷ lệ sở hữu GTN từ mức hiện tại từ 41% lên 57%. Tuy nhiên, VNM chưa có bình luận về vấn đề này, do công ty sẽ phải công bố thông tin nếu muốn tăng tỷ lệ sở hữu tại GTN.
Ước tính lợi nhuận
Năm 2020, các giả định chính của chúng tôi bao gồm: (1) tăng trưởng doanh thu trong nước đạt 7% YoY (tăng 5-6% về sản lượng tiêu thụ và 2-3% về giá do thay đổi cơ cấu sản phẩm, cũng như thêm doanh thu từ sản phẩm mới ra mắt năm 2019 và các chương trình sữa học đường); (2) tăng trưởng doanh thu nước ngoài đạt 10-12% YoY; (3) giá nguyên liệu tăng 4% tính theo đồng VND; (4) tỷ lệ chi phí SG&A/ doanh thu là 25,5% (so với 25,2% vào năm 2019) và (4) thuế thu nhập doanh nhiệp ở mức 18% (so với 17,5% vào năm 2019). Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm 2,2% ước tính lợi nhuận ròng 2020.
Do đó, chúng tôi ước tính VNM đạt 8,1% và 6,9% YoY tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng năm 2020.
Thuế suất thuế TNDN sẽ tăng dần lên 20% vào năm 2022, đây là yếu tố có thể làm giảm tăng trưởng lợi nhuận ròng.

Điều chỉnhlợi nhuận

Tỷ đồng

2019F

2020F

Lưu ý

Mới

Mới

Doanh thu

57.285

56.049

61.605

60,585

Giảm dự báo doanh thu nội địa

Tăng/giảm

-2,16%

-1,66%

Lợi nhuận ròng

10.976

10.849

11.891

11,628

Giảm dự báo doanh thu nội địa

Tăng/giảm

-0,89%

-2,21%

Nguồn: SSI dự báo

Định giá và Quan điểm đầu tư
VNM đang giao dịch ở mức PE và EV/EBITDA là 23x và 14,3x cho năm 2019; 21,5x và 13,2x cho năm 2020. Chúng tôi cho rằng đây không phải mức đắt, nhưng vẫn chưa hấp dẫn do triển vọng tăng trưởng chưa khả quan của VNM (CAGR lợi nhuận ròng giai đoạn 2018-2023 chỉ ở mức 6,5%). Mặc dù vậy, chúng tôi tăng giá mục tiêu 1 năm lên 139.000 đồng (từ 130.000 đồng) khi chúng tôi chuyển cơ sở định giá sang EPS 2020 (từ 2019) và áp dụng PE mục tiêu không thay đổi là 23x, thấp hơn 15% so với trung bình trong khu vực. Chúng tôi sẽ tăng PE mục tiêu khi nhận thấy có thay đổi tích cực về các yếu tố cơ bản. Do đó, chúng tôi duy trì khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG đối với cổ phiếu.
Quan điểmcủa chúng tôi:Mặc dù mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người ở Việt Nam đạt gần 19 lít vào năm 2018, nhưng con số này vẫn thấp hơn rõ rệt so với các nước châu Á khác: Trung Quốc (22,5 lít), Malaysia (27), Thái Lan (32), Đài Loan (51), Ấn Độ ( 59), Hàn Quốc (66) và Nhật Bản (69). VNM với vai trò là công ty dẫn đầu thị trường trong nước tại Việt Nam, được hưởng lợi từ việc tăng tiêu thụ sữa trong dài hạn, cùng với thu nhập khả dụng cao hơn và tăng tiêu thụ các sản phẩm giá trị gia tăng như phô mai và bơ.
Trong vài năm tới, chúng tôi hy vọng những điều sau đây sẽ trở thành các động lực tăng trưởng chínhtrong tương lai:

  • Doanh thu tăng từ các sản phẩm mới ra mắt năm 2018-2019.
  • Thị trường Trung Quốc với tiềm năng hấp dẫn, chỉ cần nắm một thị phần nhỏ của thị trường 60 tỷ USD này cũng là rất có ý nghĩa đối với tăng trưởng lợi nhuận của VNM.
  • Mua lại thành công Sữa Mộc Châu hỗ trợ tăng trưởng dài hạn
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chúng tôi nhận thấy một số thách thức mang tính xu hướng mà VNM cần vượt qua:
  • Thay đổi thói quen của người tiêu dùng. Một số xu hướng mới đã xuất hiện trong những năm gần đây, như xu hướng ăn uống ở ngoài và tiêu thụ sữa hạt.
  • Thay đổi trong thị trường bán lẻ. Doanh thu qua các kênh thương mại hiện đại đã tăng lên nhanh chóng, nhưng hiện tại chỉ chiếm có 10% tổng doanh thu của VNM. Trong các siêu thị, cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini hoặc thông qua thương mại điện tử, các sản phẩm của Vinamilk cạnh tranh với một lượng lớn các thương hiệu khác, trong khi trong kênh thương mại truyền thống, Vinamilk đang chiếm ưu thế. Do đó, để thúc đẩy doanh số, VNM có thể phải tăng chi phí bán hàng để thúc đẩy sản phẩm sang các kênh khác để tăng thị phần trong tương lai.

Rủi ro tăng giá:Tăng trưởng doanh thu cao hơn ước tính và giá nguyên liệu thô thấp hơn ước tính là các rủi ro tăng giá chính. Việc nhà nước tiếp tục thoái vốn tịa VNM có thể là yếu tố tích cực tác động đến giá cổ phiếu, hoặc việc VNM mua thành công Sữa Mộc Châu.
Rủi ro giảm giá:Tăng trưởng doanh số thấp hơn ước tính; giá nguyên liệu cao hơn ước tính.

(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)