TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

VHC có thể hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)

Ngày: 12/04/2019 09:34 - Lượt xem: 103

VHC (Khả quan) đã công bố KQKD kiểm toán năm 2018 khả quan và sát kỳ vọng của chúng tôi. Doanh thu thuần tăng trưởng 13,7% đạt 9.271,3 tỷ đồng và LNST tăng trưởng 138,5% đạt 1.442,2 tỷ đồng, chủ yếu nhờ giá xuất khẩu cá tra đạt cao

Theo đó Công ty đã hoàn thành được gần 100% kế hoạch doanh thu thuần là 9.300 tỷ đồng nhưng vượt 132,6% kế hoạch LNST (620 tỷ đồng) đề ra vào đầu năm. Doanh thu thuần thực hiện thấp hơn 4,5% so với dự báo của chúng tôi là 9.706 tỷ đồng nhưng LNST thực hiện sát với dự báo của chúng tôi là 1.465 tỷ đồng.

Kết luận nhanh – Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VHC là 120.943đ; tương đương P/E dự phóng là 6,5 lần. KQKD năm 2018 rất khả quan sau khi giá xuất khẩu cá tra đạt mức cao kỷ lục trong khi sản lượng xuất khẩu giảm nhẹ. Cho năm 2019, HSC dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ tăng trưởng 11,4% với giả định sản lượng tăng khiêm tốn còn giá bán bình quân giảm nhẹ; trong khi đó nhiều khả năng tỷ suất lợi nhuận gộp vẫn ở mức cao nhờ giá cá nguyên liệu thấp.

Doanh thu thuần tăng trưởng 13,7% đạt 9.271,3 tỷ đồng, chủ yếu nhờ giá bán bình quân tăng

-     Doanh thu thành phẩm, chủ yếu là xuất khẩu cá tra tăng 17,4% đạt 7.365,7 tỷ đồng. Kết quả này đạt được nhờ giá cá tra xuất khẩu tăng mạnh 33% từ 3,13 USD/kg lên 4,19 USD/kg trong khi sản lượng xuất khẩu giảm nhẹ 3,3% từ 81.218 tấn xuống 78.569 tấn. Giá bán bình quân tăng mạnh chủ yếu do giá cá nguyên liệu tăng và nhu cầu tại thị trường xuất khẩu chính cao.

-     Doanh thu hàng hóa (thức ăn cho cá, cá) tăng 52,9% đạt 864,3 tỷ đồng.

-     Doanh thu nguyên vật liệu (đậu nành và bao bì) cũng giảm 54,6% còn 21,4 tỷ đồng.

Thị trường Mỹ và Trung Quốc vẫn là 2 thị trường xuất khẩu chính trong năm – với doanh thu xuất khẩu theo từng thị trường chính như sau.

•    Doanh thu từ thị trường Mỹ tăng 49% đạt 210,5 triệu USD, đóng góp 64% vào tổng doanh thu xuất khẩu (năm ngoái là 51%). Sự tăng trưởng mạnh ở thị trường Mỹ nhờ giá bán tăng 37% và sản lượng tiêu xuất khẩu tăng 8,5%.

•    Doanh thu từ thị trường Trung Quốc tăng 26% đạt 59,2 triệu USD, đóng góp 18% vào tổng doanh thu xuất khẩu (năm 2017 là 17%).

•    Doanh thu từ thị trường EU tăng 6,7% đạt 36,2 triệu USD, đóng góp 11% vào tổng doanh thu xuất khẩu (giảm từ 13,4% trong năm 2017%).

Chúng tôi thấy số liệu xuất khẩu cao hơn doanh thu “thành phẩm” trên báo cáo kết quả kinh doanh do có sự khác biệt giữa cách xác định doanh thu thực tế và doanh thu kế toán. Doanh thu xuất khẩu được xác định khi VHC ký hợp đồng với khách hàng trong khi doanh thu kế toán được ghi nhận vào thời điểm giao hàng.

Lợi nhuận gộp tăng mạnh 74% đạt 2.039,3 tỷ đồng – Tỷ suất lợi nhuận gộp ở mức rất cao là 22% (năm 2017 là 14,4%). Giá cá tra xuất khẩu đã và đang tăng liên tục kể từ đầu năm trong khi giá cá nguyên liệu cũng tăng nhưng tăng chậm hơn (trên thực tế giá cá nguyên liệu còn giảm từ tháng 5 đến tháng 7). Do vậy khoảng cách giữa giá bán và giá cá nguyên liệu tiếp tục nới rộng. Theo đó tỷ suất lợi nhuận gộp cũng tăng theo từng quý.

-     Tỷ suất lợi nhuận gộp Q1 chỉ là 14,3% với giá bán bình quân là 3,75 USD/ kg và giá cá tra nguyên liệu là 2,94 USD/kg (theo ước tính của chúng tôi). Theo đó giá bán bình quân và giá cá nguyên liệu bình quân chênh nhau 0,81 USD/kg.

-     Tỷ suất lợi nhuận gộp Q2 tăng lên 20,6%. Giá bán bình quân trong Q2 đạt mức kỷ lục là 4,14 USD/kg, tăng 10,4% so với quỹ liền trước và tăng 32,5% so với mức bình quân năm 2017. Trong khi đó giá cá nguyên liệu trong Q2 tiếp tục tăng nhưng mức tăng thấp hơn so với mức tăng của giá bán bình quân. Trong Q2, giá cá nguyên liệu ở thị trường trong nước tăng lên 30.217đ/kg. Giả sử VHC tự cung cấp được 50% nhu cầu cá nguyên liệu đầu vào, chúng tôi ước tính giá cá nguyên liệu bình quân trong Q2 là 2,98 USD/kg, tăng 1,4% so với quý liền trước; nghĩa là thấp hơn nhiều mức tăng 10,4% của giá bán bình quân. Ngoài ra, chênh lệch giữa giá bán bình quân và giá cá nguyên liệu bình quân là 1,16 USD/kg; cao hơn nhiều trong Q1.

-     Tỷ suất lợi nhuận gộp Q3 thậm chí tăng lên 29,9%. Trong Q3, giá bán bình quân phá vỡ mức kỷ lục trong Q2 và đạt 4,67 USD/kg, tăng 12,8% so với mức bình quân trong Q2 và tăng 49,3% so với mức bình quân năm 2017. Trong Q3, giá cá nguyên liệu bình quân giảm nhẹ so với Q2 nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ với giá cá nguyên liệu bình quân trong nước là khoảng 28.450đ/kg, giảm 6,9% so với Q2/2018 và tăng 19% so với cùng kỳ. Giá đã giảm từ 30.000đ/kg vào đầu tháng 6 xuống 25.000đ/kg trong từ tháng 7 đến đầu tháng 8 và tăng trở lại lên trên 30.000đ/kg từ đầu tháng 9. Vào cuối tháng 9, giá cá tra nguyên liệu trong nước là 35.000đ/ kg. Giả sử VHC có thể tự cung cấp được 40% nhu cầu cá nguyên liệu, chúng tôi ước tính giá cá nguyên liệu bình quân trong Q3 là 2,89 USD/kg, giảm 3,1% so với quý liền trước trong khi giá bán bình quân tăng 12,8% so với quý liền trước như đề cập trên đây. Do vậy chênh lệch giữa giá bán bình quân và giá cá nguyên liệu bình quân thậm chí còn tăng lên 1,78 USD/kg.

-     Tỷ suất lợi nhuận gộp Q4 giảm xuống 21,1% từ mức đỉnh 29,9% trong Q3 do giá cá nguyên liệu tăng mặc dù giá xuất khẩu vẫn ở mức cao. Giá cá nguyên liệu bình quân trong nước trong Q4 tăng 15,7% so với quý liền trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ, lên 32.907 đ/kg. Giả sử VHC có thể tự cung cấp được 50% nhu cầu cá nguyên liệu, chúng tôi ước tính giá cá nguyên liệu bình quân trong Q4 là 3,06 USD/kg, tăng 6,1% so với quý liền trước trong khi giá bán bình quân tăng gần như giữ nguyên ở 4,6 USD/ kg (giảm 1,5% so với quý liền trước). Do vậy theo ước tính của chúng tôi, chênh lệch giữa giá bán bình quân và giá cá nguyên liệu bình quân giảm 13,7% so với quý liền trước xuống còn 1,54 USD/kg.

Lỗ tài chính gần như giữ nguyên – Doanh thu HĐ tài chính tăng 134,6% đạt 137 tỷ đồng, trong khi đó chi phí tài chính tăng 88,8% lên 167,1 tỷ đồng. Do đó, lỗ tài chính giảm 0,1% còn 30,1 tỷ đồng.

-     Lãi tiền gửi tăng hơn 3 lần từ 20,6 tỷ đồng lên 64,9 tỷ đồng nhờ nguồn tiền mặt lớn từ bán 65% cổ phần tại Văn Đức Tiền Giang. Theo đó, tiền mặt và phần tiền gửi tại ngân hàng tăng mạnh 55,7% từ 418,2 tỷ đồng vào ngày 31/12/2017 lên 651 tỷ đồng vào ngày 31/12/2018.

-     Chi phí lãi vay giảm 21,6% từ 71,4 tỷ đồng xuống 56 tỷ đồng do vay nợ giảm. Tổng nợ giảm 10% từ 1.410,4 tỷ đồng vào đầu năm xuống 1.269,4 tỷ đồng vào cuối năm.

-     Tuy nhiên, sau khi bán 65% cổ phần tại Văn Đức Tiền Giang, công ty phải hạch toán một khoản chi phí tài chính không thường xuyên hơn 69,2 tỷ đồng cho phần lợi thế thương mại còn lại phát sinh từ việc mua công ty con này trong năm 2014.
Lợi nhuận từ các công ty liên kết là 68,8 tỷ đồng – do VDTG không còn là công ty con mà trở thành công ty liên kết của VHC từ Q2. Hiện tại, VHC sở hữu 35% cổ phần của VDTG.

Chi phí bán hàng & quản lý giảm 13,8% – Chi phí bán hàng & quản lý là 354 tỷ đồng, giảm 13,8% với chi phí bán hàng giảm 21,9 còn 210,4 tỷ đồng trong khi đó chi phí quản lý gần như không đổi là 143,5 tỷ đồng (tăng 1,6% so với cùng kỳ). Do đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu năm 2018 là 3,8%, thấp hơn so với cùng kỳ, là 5%.

LNST của cổ đông công ty mẹ tăng 138,5% đạt 1.442,2 tỷ đồng – theo đó tỷ suất LNST đạt rất cao là 11,1% (năm 2017 là 5%).

Doanh thu xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2019 tăng 17,4% so với cùng kỳ - Trong 2 tháng đầu năm 2019 VHC xuất khẩu được 44,32 triệu USD cá tra, tăng 17,4% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ giá xuất khẩu tăng.

Cho năm 2019, chúng tôi dự báo LNST tăng trưởng 11,4% - Chúng tôi dự báo cho năm 2019, doanh thu thuần đạt 10.121,1 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 1.606,9 tỷ đồng, tăng trưởng 11,4% với những giả định sau:

1. Sản lượng cá tra xuất khẩu đạt 84.383 tấn, tăng 7,4% với sản lượng từng thị trường chính như sau:

-     Mỹ: 48.984 tấn, tăng 5% so với năm trước
-     Châu Âu: 10.144 tấn, tăng 15% so với năm trước.
-     Trung Quốc & Hongkong: 13.733 tấn, tăng 15% so với năm trước

2. Chúng tôi dự báo giá bán bình quân đạt 4,1 USD/kg, giảm 2% từ mức hiện nay là khoảng 4,48 USD/kg do giá cá nguyên liệu giảm. Giá bán bình quân từng thị trường như sau:

-     Mỹ: 4,58 USD/kg, giữ nguyên so với năm trước
-     Châu Âu: 4,07 USD/kg, giảm 5% so với năm trước
-     Trung Quốc: 3,07 USD/kg, giảm 5% so với năm trước

3. Do đó, chúng tôi ước tính giá trị xuất khẩu cá tra đạt 346 triệu USD, tăng 5,2%.

4. Chúng tôi dự báo tỷ suất lợi nhuận gộp xuất khẩu cá tra là 22,5% so với mức 22% năm 2018 với giả định giá cá nguyên liệu bình quân là 28.800đ/ kg, giảm 5% và giá xuất khẩu bình quân là 4,1 USD/kg, giảm 2%.

5. Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu là 3,8%, xấp xỉ năm 2018.

Theo đó, EPS dự phóng 2019 là 17.173đ, tương đương P/E dự phóng là 5,3 lần.

Cho năm 2020, chúng tôi dự báo LNST tăng trưởng 10,9% - Chúng tôi dự báo cho năm 2020, doanh thu thuần đạt 11.065,3 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 1.781,3 tỷ đồng, tăng trưởng 10,9% với những giả định sau:

1. Sản lượng cá tra xuất khẩu đạt 89.991 tấn, tăng 6,6% với sản lượng từng thị trường chính như sau:

-     Mỹ: 51.433 tấn, tăng 5% so với năm trước
-     Châu Âu: 11.158 tấn, tăng 15% so với năm trước.
-     Trung Quốc & Hongkong: 15.793 tấn, tăng 15% so với năm trước

2. Chúng tôi dự báo giá bán bình quân đạt 4,1 USD/kg với giá bán tất các thị trường giữ nguyên.

3. Theo đó giá trị xuất khẩu cá tra đạt 367,7 triệu USD, tăng 6,3%.

4. Tỷ suất lợi nhuận gộp là 22,3%.

5. Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giữ nguyên ở 3,8%.

Theo đó, EPS năm 2020 là 19.062đ.

VHC có thể hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) – Vào ngày 17/10/2018, Ủy ban châu Âu (EC) đã nhất trí trình EVFTA lên Hội đồng Châu Âu để chấp thuận và ký kết. Dự kiến EVFTA sẽ sớm được ký kết, có thể là vào cuối năm 2019. Sau khi EVFTA có hiệu lực, thuế đối với hầu hết các sản phẩm nông sản sẽ được gỡ bỏ. Hiện cá tra fillet của Việt Nam xuất sang EU chịu mức thuế 5,5%. Xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang EU giảm với tốc độ gộp bình quân năm là 8,7% từ năm 2013 đến 2018 do một số chiến dịch trên truyền thông. Do vậy EVFTAcó thể tạo ra thêm cơ hội để cá tra của Việt Nam giành lại vị thế của mình tại thị trường EU. VHC hiện có khoảng 11% giá trị xuất khẩu sang EU và có thể hưởng lợi từ hiệp định thương mại tự do này. Chúng tôi được biết ban lãnh đạo VHC đã có kế hoạch tập trung hơn vào thị trường EU trong năm nay.

Định giá – Chúng tôi dùng phương pháp so sánh với công ty cùng ngành trong nước gồm FMC, ABT, MPC và ANV để định giá cổ phiếu VHC. Những doanh nghiệp cùng ngành này đang có P/E trung vị 4 quý gần nhất là 7,1 lần. Do VHC đang tăng trưởng nhanh hơn và hiệu quả hoạt động cao hơn các doanh nghiệp cùng ngành với ROE & tỷ suất lợi nhuận cao hơn, nên chúng tôi cộng thêm 10% vào giá trị hợp lý của VHC và tính ra mức P/E tại giá trị hợp lý của VHC 4 quý gần nhất là 7,8 lần. Theo đó giá trị hợp lý là 120.943đ; tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 6,5 lần.

Kết luận đầu tư - Tiếp tục đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VHC là 120.943đ, tương đương P/E 4 quý gần nhất là 7,8 lần và P/E dự phóng năm 2019 là 6,5 lần. Triển vọng có vẻ vẫn còn sáng sủa nhờ khả năng Việt Nam sớm được chính thức công nhận đủ điều kiện xuất khẩu cá da trơn vào Mỹ. Ngoài ra, VHC có thể sẽ hưởng lợi từ EVFTA dự kiến sớm được ký kết. Tỷ suất lợi nhuận gộp nhiều khả năng vẫn ở mức cao vì chúng tôi kỳ vọng vào việc giá cá nguyên liệu giảm nhiều hơn mức giảm của giá xuất khẩu bình quân.

(Nguồn: HSC)

Tư vấn thu phí



- Nhận ngay LIST Cổ Phiếu chiến lược tuần
- Bỏ túi ấn phẩm quý và File KQKD của hơn 800 DN trên sàn
- Tham gia Room VIP tư vấn 24/7
- Kiếm lời với Robot phái sinh
- Nhận ưu đãi cho khóa học chứng khoán A->Z
- Đào tạo phương pháp đầu tư tăng trưởng TVI 

Tham khảo các gói tại đây

>>>> Chọn gói tư vấn:
  • Gói đăng ký (*)

  •  (*)

  •  (*)

  • Email (*)

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)