TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

BID: Cổ phiếu hồi phục – nâng hạng lên Khả quan

Ngày: 26/09/2019 03:54 - Lượt xem: 183

Khuyến nghị: Khả Quan (từ Phù hợp Thị trường)
Giá mục tiêu 1 năm: 42.900 Đồng/cp (35.700 Đồng/cp)
Tăng: +7,5%
Giá hiện tại (tại ngày 25/09/2019): 38.500 Đồng/cp

BID công bố LNTT quý 2 là 2,19 nghìn tỷ đồng, giảm 11,9% YoY. Mặc dù thu nhập hoạt động trước trích lập dự phòng tăng 19,2% YoY, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 38,5% YoY.

Tính tới cuối tháng 6 năm 2019, tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi khách hàng của BID tăng lần lượt 6,6%, 7,3% và 7,7% YTD. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn so với VCB và hầu hết các ngân hàng cấp 2.

LNTT của BID đạt 4,71 nghìn tỷ đồng trong 6T2019, giảm 5,3% YoY và chỉ hoàn thành 45,7% kế hoạch cả năm là 10,3 nghìn tỷ đồng.

NIM trong 6T2019 ở mức 2,96%, giảm 27 bps so với 3,23% trong 6T2018. Trong khi LDR tăng lên 98,2%, nợ quá đã hạn tăng 13,7% YTD, vượt quá tăng trưởng tín dụng là 7,3% YTD.

Tỷ lệ chi phí dự phòng/thu nhập hoạt động tăng dần từ 23% trong năm 2015 lên 42,5% trong năm 2018, và cao nhất là 47,4% trong 6T2019, đạt tỉ lệ cao nhất toàn hệ thống kể từ năm 2012. Tuy nhiên, cũng do trích lập dự phòng cao, từ năm 2015 đến 6T2019, BID đã giảm thành công 74% số trái phiếu VAMC chưa trích lập dự phòng.

Vào tháng 7, BID thông báo quyết định của Ban Giám đốc về việc phát hành 603,3 triệu cổ phiếu, tương đương 15% tổng số lượng cổ phiếu lưu hành sau khi phát hành, cho ngân hàng Hàn Quốc KEB Hana Bank. Tổng giá trị của thương vụ này là 875,54 triệu USD.

Mặc dù phải giải quyết nợ xấu trong nhiều năm qua, chúng tôi tin rằng ngân hàng sẽ sớm hồi phục trở lại. Chúng tôi dự báo LNTT của BID vào năm 2019 là 10,5 nghìn tỷ đồng (tăng 10,9% YoY) và năm 2020 là 16,48 nghìn tỷ đồng (tăng 56,9% YoY). Chúng tôi cũng dự báo BVPS 2019 và 2020 lần lượt là 19.150 đồng và 21.435 đồng.

Chúng tôi nâng tỷ lệ P/B mục tiêu cho BID từ 1,8x lên 2,0x, do đó giá mục tiêu là 42.900 đồng/cp, dựa trên BVPS 2020 (trước đó là 35.700 đồng/cp dựa trên BVPS 2019). Giá mục tiêu tăng 7,5% so với giá hiện tại, chúng tôi nâng khuyến nghị từ PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG lên KHẢ QUAN cho cổ phiếu này.

Kết quả kinh doanh 6T2019

BID công bố LNTT quý 2 là 2,19 nghìn tỷ, giảm 11,9% YoY. Mặc dù thu nhập hoạt động trước trích lập dự phòng tăng 19,2% YoY, chi phí dự phòng cho rủi ro tín dụng tăng 38,5% YoY.

Bảng:Tóm tắt báo cáo kết quả kinh doanh

(tỷ đồng)

Q2 2019

Q2 2018

%YoY

6T2019

6T2018

%YoY

Thu nhập lãi ròng

9.101

8.299

9,7%

17.646

17.465

1,0%

Thu nhập ngoài lãi

2.864

2.423

18,2%

5.025

4.535

10,8%

Thu nhập hoạt động

11.966

10.722

11,6%

22.671

22.000

3,0%

Chi phí hoạt động

(4.218)

(4.225)

-0,2%

(7.216)

(7.004)

3,0%

CIR

35,3%

39,4%

31,8%

31,8%

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng

(5.559)

(4.013)

38,5%

(10.746)

(10.026)

7,2%

Lợi nhuận trước thuế

2.188

2.485

-11,9%

4.709

4.970

-5,3%

NIM

3,03%

3,02%

2,96%

3,23%

Chi phí tín dụng

2,13%

1,78%

2,09%

2,23%

Bảng: Tóm tắt bảng cân đối kế toán hợp nhất

(Tỷ đồng)

6T2019

2018

% YTD tăng trưởng

6T2018

%YoY tăng trưởng

Tổng tài sản

1.400.112

1.313.038

6,6%

1.268.549

10,4%

Nợ vay khách hàng (bao gồm trái phiếu doanh nghiệp)

1.088.281

1.014.243

7,3%

959.156

13,5%

Tiền gửi khách hàng (bao gồm giấy tờ có giá)

1.108.769

1.029.663

7,7%

1.022.047

8,5%

Tỷ lệ nợ xấu (Thông tư 02)

1,98%

1,90%

1,49%

Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLC)

72,7%

66,0%

84,9%

LDR (ngân hàng mẹ)

98,2%

98,5%

93,8%

CAR (Thông tư 36)

9,0%

9,0%

9,0%

Nguồn: BID và SSI Research

Tính tới cuối tháng 6 năm 2019, tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi khách hàng của BID tăng lần lượt 6,6%, 7,3% và 7,7% YTD. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn so với VCB và phần lớn các ngân hàng có vốn cấp 2 tương đương do dự phòng bảo toàn vốn cho rủi ro hệ thống của BID vẫn còn hạn chế.

NIMtrong 6T2019 ở mức 2,96%, giảm 27 bps so với mức 3,23% trong 6T2018. NIM vẫn giảm mặc dù tỷ trọng cho vay cá nhân trên tổng cho vay trong 6T2019 tăng lên 33,8%, cao hơn so với 32,5% năm 2018 và 31,1% năm 2017; trong đó, cho vay thế chấp nhà và cho vay tiêu dùng chiếm lần lượt 33% và 25% tống cho vay cá nhân. Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tính tới cuối 6T2019 chiếm 27,4% tổng cho vay, tăng từ 25% trong năm 2017 và 26,8% trong năm 2018. Thêm vào đó, tỷ lệ LDR tăng lên 98,2%, cao hơn mức 93,8% trong 6T2018.

Điều này có thể phần lớn là do nợ quá hạn tăng mạnh 13,7% YTD, vượt tăng trưởng của nợ tiêu chuẩn với thu nhập lãi ròng tăng 7,7% YTD. Lợi suất cho vay trung bình giảm từ 8,24% trong 6T2018 xuống 8,05% trong 6T2019 có thể do ngân hàng đã hoàn nhập một số khoản thu nhập lãi liên quan tới các khoản mới phân loại thành nợ xấu. Do vậy, lợi suất tài sản giảm 4 bps so với 6T2019.

Cũng thời điểm này, chi phí huy động vốn trung bình tăng 23 bps do lãi suất tiền gửi trung bình tăng 45 bps, cùng với lãi suất phát hành trung bình của các công cụ tài chính tăng 23 bps, vì ngân hàng tập trung hơn vào công cụ tiền gửi khách hàng trung hạn và dài hạn. Trong 6T2019, việc tỷ lệ CASA đã giảm từ 17,1% trong năm 2018 xuống 15% cũng làm tăng lãi suất huy động.

dh1952.png

Trong 6T2019, tổng thu nhập hoạt động tăng nhẹ 3% YoY. Thu nhập lãi ròng tăng nhẹ 1% YoY do NIM giảm, chiếm 77,8% tổng thu nhập hoạt động. Thu nhập ròng từ phí tăng đáng kể 14,4% YoY. Thu nhập ròng khác tăng mạnh 49,7% YoY, trong khi thu nhập từ ngoại hối, giao dịch chứng khoán và đầu tư giảm mạnh 45,2% YoY. Mặc dù chịu sự sụt giảm mạnh, kết quả từ hoạt động đầu tư tương tự các ngân hàng khác do kết quả kinh doanh tích cực trong 6T2018.

Tỷ lệ CIR trong 6T2019 tương đương với 6T2018, ở mức 31,8%. Đáng chú ý là tỉ lệ này là thấp nhất trong số các ngân hàng niêm yết mà chúng tôi nghiên cứu. Tuy nhiên, chi phí tín dụng trong quý 2 ở mức 2,13%, là con số cao nhất trong 5 quý qua, nằm trong số cao nhất trong toàn hệ thống, do nợ xấu tăng. Tỷ lệ nợ xấu trong quý 2/2019 là 1,98% so với 1,49% trong quý 2/2018 và 1,74% trong quý 1/2019. BID là một trong số các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng trong 6T2019 so với năm 2018. Việc này trái ngược với xu thế giảm tỷ lệ nợ xấu đang diễn ra trong ngành. Trong khi BID vẫn đang xử lí nợ xấu tồn đọng, phần lớn các ngân hàng khác đã hoàn thành quá trình này.

dh1953.png

Lũy kế, lợi nhuận trước thuế của BID đạt 4,71 nghìn tỷ đồng trong 6T2019, giảm 5,3% YoY và chỉ hoàn thành 45,7% kế hoạch cả năm là 10,3 nghìn tỷ đồng. BID và VPB là 2 ngân hàng duy nhất trong ngành khi có tăng trưởng lợi nhuận giảm trong 6T2019.

Tập trung vào xử lí nợ xấu

Trong hoạt động dự phòng, tỉ lệ thu nhập hoạt động trước dự phòng/vốn chủ sở hữu tăng lên 58,3% trong 6T2019, là một trong số những tỉ lệ cao nhất toàn hệ thống kể từ năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản trung bình (ROAA) và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn trung bình (ROAE) đang ở mức khá thấp so với các ngân hàng khác trong nước, do BID đã chú trọng vào việc trích lập dự phòng cao để xử lí nợ xấu tồn đọng, bao gồm trái phiếu VAMC (khoảng 4,98 nghìn tỷ đồng giá trị ròng trong 6T2019), và các khoản nợ xấu tiềm ẩn đã ảnh hưởng đến ngân hàng từ quý 3/2018.

Tỷ lệ chi phí dự phòng/thu nhập hoạt động tăng dần từ 23% trong năm 2015 lên 42,5% trong năm 2018, và cao nhất là 47,4% trong 6T2019, là tỉ lệ cao nhất toàn ngành kể từ năm 2012. Tuy nhiên, nhờ có trích lập dự phòng cao, từ năm 2015 đến 6T2019, BID đã giảm thành công 74% số trái phiếu VAMC mà chưa được trích dự phòng. Điều này giúp nợ xấu giảm từ 18,84 nghìn tỷ đồng xuống 4,98 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 0,47% tổng dư nợ cho vay) và ngân hàng đã xóa 38,6 nghìn tỷ nợ xấu, tương đương 3,62% tổng dư nợ cho vay hiện tại.

Tính tới cuối năm 2018, nợ xấu đã tăng 33,7% YoY, và tính tới 6T2019, con số này tiếp tục tăng thêm 12,3% YTD. Tỷ lệ nợ xấu đã tăng từ 1,49% trong 6T2018 lên 1,98% trong 6T2019, trong đó nợ nhóm 5 tăng 47% YTD. Nguyên nhân là do ngân hàng phát hiện nhiều nợ xấu tiềm ẩn phát sinh từ giai đoạn trước và ghi nhận trong khoảng thời gian này. Theo ngân hàng, tỉ lệ chuyển thành nợ xấu từ khoản cho vay mới chỉ ở mức dưới 1%. Tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu hợp nhất (LLC) đang ở mức 72,7%, cho thấy ngân hàng vẫn phải trích lập thêm dự phòng để xóa nợ xấu mới hình thành.

Hoàn thành việc huy động vốn

Trong tháng 7, BID thông báo quyết định của Ban Giám đốc về việc phát hành 603,3 triệu cổ phiếu, tương đương 15% tổng số lượng cổ phiếu lưu hành sau khi phát hành. Số cổ phiếu này sẽ được phát hành riêng lẻ cho ngân hàng Hàn Quốc KEB Hana Bank. Tổng giá trị của thương vụ này là 875,54 triệu USD, giúp vốn chủ sở hữu tăng 39% so với năm 2018
Giá phát hành ước tính là 33.640 đồng/cp, tương đương P/B dự phóng trước khi phát hành năm 2019 là 2,06x. Chúng tôi ước tính ngân hàng sẽ ghi nhân thêm 14,26 nghìn tỷ đồng thặng dư.

Việc gọi vốn của BID là sát với kỳ vọng của chúng tôi, như đã đề cập trong báo cáo trước đó. Việc tăng them 15% vốn điều lệ vào sẽ hỗ trợ cho việc triển khai Basel II kể từ ngày 1/1/2020. Tính tới cuối năm 2018, tỷ lệ CAR của BID là 9%, nằm ở ngưỡng quy định của Basel I. Chúng tôi dự tính việc tăng vốn chủ sở hữu này sẽ đẩy tỷ lệ CAR lên 10,5%.
Thêm vào đó, nguồn vốn này cũng sẽ hỗ trợ cho tăng trưởng tín đụng và thu nhập lãi thuần. Hạn mức tăng trưởng tín dụng do Ngân hàng nhà nước đặt ra cho năm 2019 là chỉ 11% YoY. Chúng tôi kỳ vọng chỉ số này sẽ được tăng lên dựa trên tình hình vốn của ngân hàng.

Chúng tôi cũng kỳ vọng ngân hàng KEB Hana Bank, với tư cách là một nhà đầu tư chiến lược, sẽ tham gia vào việc quản lí ngân hàng, và tăng cường chuyên môn về mảng bán lẻ và ngân hàng số của BID, cũng như mở rộng lượng khách hàng sang các công ty FDI Hàn Quốc tại Việt Nam.

dh1954.png

Dự báo năm 2019 và 2020

Mặc dù trải qua nhiều năm xử lý nợ xấu, chúng tôi tin rằng ngân hàng sẽ sớm hồi phục trở lại. Bắt đầu từ năm 2019, và với đà tăng trưởng cho năm 2020, chúng tôi kỳ vọng sẽ có nhiều sự kiện xảy ra giúp hồi phục vị thế của ngân hàng. Về chi tiết cho dự báo đối với BID, chúng tôi ước tính LNTT đạt 10,5 nghìn tỷ đồng (tăng 10,9% YoY) trong năm 2019, và nâng lên 16,48 nghìn tỷ đồng (tăng 56,9% YoY) trong năm 2020. Các giả định chính cho dự báo của chúng tôi cho năm 2019/2020 như sau:

Tăng trưởng tín dụng là 13,5%/14% YoY, dựa trên việc tăng vốn cấp 1 gần đây qua việc phát hành cổ phiếu cho KEB Hana Bank.

Tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 13,2%/13,1% YoY. Chúng tôi kỳ vọng NIM sẽ giảm xuống 2,8%/2,82%. Nhờ vào việc phát hành thành công 15% cổ phần, BID sẽ có thêm vốn để cho vay, và theo đó giảm chi phí lãi. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thận trọng với giả định về NIM, một phần do việc cắt giảm lãi suất cho vay cho 5 ngành công nghiệp được ưu tiên là nông nghiệp, xuất khẩu, phụ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và công nghệ cao theo Thông tư số 01/NĐ-CP có thể làm giảm hiệu quả của tăng trưởng cho vay cá nhân. Gần đây, BID đã đưa ra thông báo lần thứ 2 trong năm về việc giảm mức trần lãi suất cho các ngành công nghiệp ưu tiên. Thêm vào đó, nợ xấu có thể tăng khi quy định về Basel 2 được áp dụng vào năm 2020. BID cũng cần phải giảm tỷ lệ LDR đang ở mức cao so với các ngân hàng khác, do điều này sẽ có ảnh hưởng xấu tới NIM.

Tỷ lệ CIR giả định 2 năm tương đương nhau ở mức 36,3%/36,3%.

Tỷ lệ NPL kỳ vọng sẽ giảm nhẹ xuống khoảng 1,85% trong năm 2019 và 2020 nhờ việc xóa nợ lớn trong những năm qua. Tuy nhiên, chi phí trích lập dự phòng sẽ giảm đáng kể trong năm 2020. Chúng tôi dự báo chi phí dự phòng sẽ tăng lên 20,2 nghìn tỷ đồng (tăng 6,7% YoY) trong năm 2019, trong đó 6,3 nghìn tỷ đồng dành để xử lí trái phiếu VAMC còn lại. Trong năm 2020, chúng tôi cho rằng xử lí hết trái phiếu VAMC là dấu hiệu của việc nợ xấu tồn đọng trong ngân hàng đã được giải quyết hết. Do vậy, chúng tôi kỳ vọng chi phí dự phòng sẽ giảm đáng kể xuống 16,9 nghìn tỷ đồng (giảm 16% YoY). Nếu loại trừ chi phí trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC trong năm 2019, chúng tôi dự báo chi phí dự phòng nợ xấu trong năm 2020 sẽ tăng 22,1% YoY do nợ xấu ghi nhận sẽ tăng do chuẩn mực Basel II chặt chẽ hơn sẽ được áp dụng vào năm 2020. Do vậy, tỉ lệ LLC sẽ được tăng lên mức an toàn hơn là 97%.

Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng vốn trung bình (ROAE) ước tính là 12,5% trong năm 2019 so với 14,6% trong 2018 do pha loãng cổ phiếu. ROAE sau đó có thể tăng lên 15,6% trong năm 2020 do lợi nhuận tăng mạnh. BVPS dự phóng năm 2019 và 2020 nhiều khả năng sẽ lần lượt đạt 19.150 đồng và 21.435 đồng.

BID sẽ trả cổ tức cho năm 2018 là 7% tiền mặt, đã được Chính phủ chấp thuận, tương đương tỷ suất cổ tức là 1,82%. Ngân hàng có kế hoạch giảm sở hữu Nhà nước xuống 65% qua việc phát hành thêm cổ phiếu tương đương 12% vốn điều lệ cho nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng kế hoạch này sẽ diễn ra sớm nhất là vào năm 2020, nên chúng tôi không đưa việc này vào mô hình lợi nhuận hiện tại.

BID có kế hoạch thoái vốn 35% cổ phần khỏi Công ty TNHH Bảo Hiểm Nhân Thọ BIDV MetLife, có giá trị 522 tỷ đồng. Ngân hàng đang tìm kiếm tư vấn cho thương vụ này. Hiện tại, chúng tôi không đưa yếu tố này vào mô hình lợi nhuận.

Đánh giá và quan điểm đầu tư

Với giá thị trường là 39.900 đồng/cp, cổ phiếu BIDV đang được giao dịch với P/B dự phóng năm 2019 và 2020 lần lượt là 2,1x và 1,9x.
Trong năm 2019 và 2020, chúng tôi kỳ vọng BID sẽ ghi nhận và xử lí phần lớn nợ xấu lũy kế trong các năm trước, và quan trọng nhất là loại bỏ hoàn toàn trái phiếu VAMC ra khỏi báo cáo của ngân hàng vào cuối năm nay. Do đó, chúng tôi kỳ vọng vào năm 2020 và 2021, BID sẽ hồi phục lại vị thế của mình và có tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ.
Do vậy, chúng tôi nâng P/B mục tiêu của BID từ 1,8x lên 2,0x, với giá mục tiêu là 42.900 đồng/cp sử dụng BVPS 2020. Với khả năng tăng 7,5% so với giá hiện tại trong 1 năm tới, chúng tôi nâng khuyến nghị từ PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG lên KHẢ QUAN cho cổ phiếu này.

Rủi ro

Nền kinh tế diễn biến xấu, do đó các khoản nợ xấu mới hình thành cùng với nợ xấu tồn đọng ở mức cao hơn ước tính là rủi ro chính.
Trong khi đó, nếu BID thoái vốn khỏi Công ty TNHH Bảo Hiểm Nhân Thọ BIDV MetLife nhanh hơn dự kiến, giá có thể sẽ tăng đột biến so với kỳ vọng của nhà đầu tư. Việc phát hành sớm 12% cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể xảy ra.

(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)