TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam tháng 3.2019 - Tăng trưởng chậm là động lực để thúc đẩy cải cách

Ngày: 25/04/2019 03:21 - Lượt xem: 243

GDP quý 1 tăng +6.79%, mức tăng trưởng thấp nhất 6 quý. Nông nghiệp tăng +1.84%, thấp nhất 8 quý và công nghiệp chế biến chế tạo tăng +12.35%, thấp nhất 7 quý là điều chúng tôi đã nhắc đến trong báo cáo tháng 2 và vì vậy mức tăng thấp của quý 1 không gây bất ngờ. 

Sức ỳ của nông nghiệp vốn đã là chuyện “cơm bữa”

Ngành nông nghiệp tăng trưởng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ là +3.76% nhưng nếu so với quý 1 các năm trước đó thì +1.84% vẫn là một con số tương đối cao. Quý 1/2016 GDP Nông nghiệp giảm -2.69% còn quý 1/2017 tăng +1.38%. Tỷ trọng lúa gạo trong ngành nông nghiệp của Việt nam khá lớn nên những thay đổi về thời tiết hay thị trường xuất khẩu gạo đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành. Năm 2016 thời tiết khô hạn do El Nino đã khiến nông nghiệp tăng trưởng âm. Năm 2017 và 2019 thời tiết thuận lợi hơn nhưng xuất khẩu gạo lại giảm sút. Chỉ riêng năm 2018 ngành nông nghiệp có được thuận lợi cả về thời tiết lẫn thị trường (do Philippines và Indonesia tăng nhập khẩu gạo) nên ngành nông nghiệp đạt tăng trưởng cao kỷ lục +3.74%.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt nam (chiếm 22% tổng xuất khẩu) và Việt nam cũng là nước cung cấp gạo lớn nhất cho Trung Quốc (chiếm 46.2% tổng nhập khẩu). Tuy vậy kể từ đầu năm 2018 Trung Quốc đã áp dụng nhiều rào cản làm ảnh hưởng đến việc nhập khẩu gạo từ Việt nam như tăng thuế nhập khẩu gạo nếp từ 5% lên 50% hay kiểm soát chặt nhập khẩu gạo tấm. Có thể nói các rào cản chính sách từ phía Trung Quốc mới chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Việt nam chứ không phải do kinh tế Trung Quốc giảm tốc hay đồng nhân dân tệ mất giá.
Một tín hiệu tích cực là giá lúa gạo đã có tín hiệu tạo đáy trong tháng 2 và nhích tăng nhẹ trong tháng 3. Giá lúa trung bình trong tháng 3 là 5.45 nghìn/kg trong khi của tháng 2 là 5.27 nghìn/kg. Trái ngược với Trung Quốc, Philippines lại đang nới lỏng việc nhập khẩu gạo với việc dỡ bỏ quy định hạn mức nhập khẩu đã áp dụng trong 2 thập kỷ, đồng thời mức thuế nhập khẩu gạo từ các nước ASEAN vào Philippines cũng thấp hơn so với các nước khác, 35% so với 50%.   


Thủy sản tuy không còn phong độ cao nhưng vẫn còn nhiều hy vọng
2 năm 2017 và 2018 có thể coi là giai đoạn “vàng son” của ngành thủy sản khi đạt được tăng trưởng cao cả về sản lượng lẫn giá cả nhờ mở rộng được thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, tình hình không còn thuận lợi khi tăng trưởng xuất khẩu thủy sản quý 1/2019 chuyển sang âm -1.4% (quý 1 2017 và 2018 tăng +7.4% và +18.2%). Hàng loạt thị trường quan trọng giảm nhập khẩu như Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Hà Lan trong khi Mỹ tăng trưởng chậm lại.

Xuất khẩu thủy sang sang Trung Quốc đã giảm -3% từ quý 2 năm 2018 từ chỗ tăng +40% trong quý 1. Cả năm 2018, xuất khẩu thủy sản của Việt nam sang Trung Quốc giảm -7.9%, trái ngược hoàn toàn với tăng trưởng tổng nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc là +43.6%. Giá nhân công lao động cao khiến sản lượng thủy sản của Trung Quốc tăng chậm, thậm chí giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc với hải sản liên tục tăng là cơ hội cho thủy sản nhập khẩu. Như vậy, rất có thể Trung Quốc cũng đã áp dụng rào cản chính sách với thủy sản Việt nam, tương tự như gạo.

Với thị trường EU, câu chuyện rõ ràng hơn khi EU cảnh cáo “thẻ vàng” với thủy sản của Việt nam từ tháng 10/2017 và liên tiếp 2 lần gia hạn “thẻ vàng” trong năm 2018. Đây có thể coi là một áp lực tích cực để ngành thủy sản Việt nam phải thay đổi theo các chuẩn mực khai thác quốc tế. Luật Thủy sản được thông qua năm 2017 và có hiệu lực vào 1/1/2019 hứa hẹn sẽ mang đến những thay đổi lớn trong khai thác thủy sản, nhờ vậy mà không chỉ “thẻ vàng” có thể được gỡ bỏ mà hình ảnh và chất lượng thủy sản của Việt nam sẽ lên một nấc mới, hỗ trợ tích cực cho xuất khẩu thủy sản trong tương lai.

Mỹ là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt nam nhưng tốc độ xuất khẩu quý 1 chỉ đạt +3.9%. Một nguyên nhân được nhắc đến là do Mỹ đã tăng nhập khẩu vào cuối năm 2018 nên hàng tồn kho còn nhiều, dẫn đến giảm bớt nhập khẩu vào đầu năm 2019. Hiện tại thuế nhập khẩu vào Mỹ đang có chiều hướng thuận lợi cho cả tôm và cá tra nên nhiều khả năng tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này sẽ khởi sắc hơn trong những quý tới.


Dù điện tử yếu đi rõ rệt, Công nghiệp chế biến chế tạo vẫn là đàu tàu kéo tăng trưởng

Mức tăng trưởng +12.35% của Công nghiệp chế biến chế tạo là rất ấn tượng trong bối cảnh ngành có giá trị lớn là điện thoại đã yếu đi rõ rệt. Như các báo cáo trước chúng tôi đã chỉ ra, để bù đắp cho sự sụt giảm của Điện thoại, nhiều ngành công nghiệp đã có tăng trưởng cao như Tinh chế dầu mỏ (dự án lọc dầu Nghi Sơn), Sắt thép (dự án của Formosa), Sản xuất tivi (dự án của LG), Sản xuất ô tô (chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có tác động tích cực đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô của cả FDI lẫn trong nước), Dệt may giày dép (hưởng lợi nhờ nhiều yếu tố như sự dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc, gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam, các hiệp định thương mại …).

Bên cạnh đó, Sản xuất hóa chất cũng có tăng trưởng ấn tượng trong quý 1/2019, đạt +10.4%, cao nhất trong nhiều năm và gấp hơn 3 lần cùng kỳ 2018. Tương tự là sản phẩm cao su & plastic, +12.8%. Đây có thể là kết quả của dự án lọc dầu Nghi Sơn mới đi vào hoạt động từ giữa năm 2018. Sản xuất thực phẩm và đồ uống cũng có tăng trưởng cao, lần lượt đạt +8.7% và +11.4%, đều là mức cao so với các quý 1 trước. Tuy vậy chúng tôi không tìm được lý do cũng cố cho mức tăng trưởng cao này khi mà sức tiêu dùng nội địa không có nhiều cải thiện. Một ví dụ là sản lượng bia trong quý 1/2019 chỉ tăng +8.1% YoY, thấp hơn so với quý 1 các năm 2017 và 2018 (+9% và +10.1%).

Chất lượng và độ tin cậy của số liệu là một điểm mà chúng tôi muốn nhắc lại trong báo cáo này. Tăng trưởng GDP Công nghiệp thường có độ tương thích và xấp xỉ bằng với Chỉ số công nghiệp, tuy vậy kể từ năm 2018 trở lại đây GDP Công nghiệp lại nới rộng và nhỉnh hơn chỉ số công nghiệp. Năm 2017, chỉ số công nghiệp chế biến chế tạo tăng +14.5% thì GDP Công nghiệp CBCT tăng +14.4%, sang năm 2018, trong khi chỉ số công nghiệp CBCT tăng +12.3% thì GDP Công nghiệp CBCT lại tăng +13%. Quý 1 năm nay, chỉ số công nghiệp CBCT tăng +11.1% thì GDP Công nghiệp CBCT tăng tới +12.35%. Do là ngành có giá trị lớn nhất trong cấu thành GDP nên những thay đổi của GDP Công nghiệp CBCT có tác động rất lớn đến tăng trưởng GDP nói chung. Chúng tôi thử điều chỉnh GDP Công nghiệp CBCT giảm -0.8% thì GDP chung giảm xấp xỉ -0.3%, tức là về khoảng +6.5%. Đây là mức gần với dự báo của Bộ KHĐT vào giữa tháng 3 (+6.58%).



Dịch vụ tăng trưởng chậm lại do Lưu trú ăn uống và đặc biệt là hoạt động Đảng, Nhà nước

GDP Dịch vụ quý 1/2019 tăng +6.5%, là quý 1 thấp nhất trong 3 năm gần đây. Mặc dù 2 ngành có giá trị lớn là Bán buôn bán lẻ và Kinh doanh bất động sản có tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ, Lưu trú ăn uống, Giáo dục đào tạo và đặc biệt là Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị-xã hội; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng; đảm bảo xã hội bắt buộc (Hoạt động Đảng, CT, XH, NN) giảm sút đã kéo giảm tăng trưởng lĩnh vực Dịch vụ nói chung.

Hoạt động Đảng, CT, XH, NN trong quý 1/2019 chỉ tăng +2.83%, bằng 2/5 tốc độ tăng trung bình của 10 năm trước đó. Rất khó để tìm được nguyên nhân khiến mảng dịch vụ này sụt giảm nhưng đây là một cảnh báo cần lưu tâm trong bối cảnh nhu cầu cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường hiệu quả đầu tư công … đang rất bức thiết.

Lưu trú và ăn uống có mối liên hệ mật thiết với du lịch, trong đó lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam đóng vai trò quyết định. Như các báo cáo trước chúng tôi đã đề cập, khách Trung Quốc giảm là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng ngành du lịch giảm tốc. 3 tháng đầu năm lượng khách Trung Quốc đã giảm -5.6% YoY, kéo tăng trưởng khách quốc tế đến Việt nam xuống chỉ còn +7% (cùng kỳ tăng +30.9%). Giá trị xuất khẩu du lịch trong quý 1 cũng vì vậy tăng thấp, +7.3% (cùng kỳ tăng +23.3%).

Nếu so với ngành công nghiệp vốn đòi hỏi công nghệ cao, đầu tư lớn và thị trường xuất khẩu khó kiểm soát, Du lịch là một ngành tương đối dễ phát triển thành mũi nhọn tăng trưởng kinh tế. Một điểm nghẽn đang hạn chế sự phát triển của du lịch là cơ chế quản lý và vì vậy, Chính phủ cần nhanh chóng có giải pháp thu hút khách quốc tế như cải cách thủ tục cấp thị thực, tăng cường mở thêm các tuyến bay quốc tế, nâng cao năng lực quản lý cấp địa phương hay thúc đẩy xây dựng các trung tâm du lịch mới…



Tóm lại, tăng trưởng thấp của Quý 1/2019 đến từ 2 nguyên nhân chính: (1) Thị trường Trung Quốc giảm nhập khẩu và (2) Samsung giảm sản lượng điện thoại. Thị trường Trung Quốc co hẹp xuất phát từ các rào cản chính sách cộng hưởng với chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu nông sản (gạo và rau quả) và du lịch của Việt nam. Trong khi đó Samsung giảm sản lượng điện thoại vì thay đổi trong chiến lược sản xuất cũng như thị trường điện thoại di động thế giới bão hòa.

Nhìn sang các quý tiếp theo, nông nghiệp, du lịch nhiều khả năng sẽ tăng thấp vì rất khó để sớm tìm được thị trường thay thế cho Trung Quốc. Điện thoại sẽ tiếp tục kéo lùi tăng trưởng nếu không có những đột phá về sản phẩm hay dự án mới. Lọc hóa dầu Nghi Sơn cũng sẽ không còn tạo ra tăng trưởng cao đột biến từ nửa cuối 2019. Khai khoáng tăng trưởng thấp hoặc âm. Hy vọng cho tăng trưởng nằm ở các ngành Kim loại, Ô tô, Dệt may, Giày dép, Nội thất.

Như vậy thì tăng trưởng thấp sẽ không chỉ dừng lại ở quý 1 mà có thể còn kéo dài đến hết năm. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt nam thì khi thế giới diễn biến không thuận lợi, việc tăng trưởng chậm lại là điều dễ hiểu. Để giải quyết được vấn đề này thì cần tiếp cận ở 2 hướng. Một là khi bên ngoài bất lợi thì chuyển hướng dựa vào nội lực và hai là dù bên ngoài bất lợi nhưng vẫn phải biết tận dụng thời cơ và nỗ lực mở rộng thị trường.

Nội lực từ phía nhà nước là chính sách tiền tệ và tài khóa. Lâu nay chính sách tiền tệ luôn được viện dẫn đầu tiên khi tăng trưởng chậm lại và đây cũng là nguyên nhân của những bất ổn trong hơn 10 năm qua. Chính sách tiền tệ cần phải được nhất quán, tăng trưởng tín dụng nên ở mức vừa phải (12-14%) để giữ thanh khoản và giảm lãi suất. Chính sách tài khóa, ngược lại, cần được tận dụng triệt để, đặc biệt khi còn tồn một lượng tiền lớn chưa giải ngân và tiền thu về từ thoái vốn nhà nước. Đầu tư mạnh cho hạ tầng là cách khả thi và hiệu quả nhất từ phía Chính phủ để vừa kích thích kinh tế trong ngắn hạn, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng tương lai (với điều kiện phải đảm bảo tính minh bạch của đầu tư công).

Nội lực từ phía tư nhân là khối doanh nghiệp tư nhân và sức cầu tiêu dùng. Phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 10 là một bước đi đúng đắn và phù hợp quy luật lịch sử. Để biến Nghị quyết 10 thành thực tế chúng ta cần có những mục tiêu cụ thể, ví dụ như phát triển một "Đàn Sếu Lớn" với 30 doanh nghiệp tư nhân có thị phần và tầm ảnh hưởng trong khu vực vào năm 2030. Với sức cầu tiêu dùng, vẫn có cách "kích cầu" ngay cả khi không có nới lỏng tiền tệ, đó là thực hiện bảo hộ. Xu hướng hiện tại và cả trong tương lai đó là bảo hộ sẽ song hành cùng tự do thương mại. Các nước lớn, đông dân như Việt nam phải có một lợi thế cao trong đàm phán và vì vậy các hiệp định thương mại cần phải rà soát lại. Các nước, khu vực có trình độ phát triển tương tự như Việt nam cần kiểm soát chặt, trong khi đó ưu tiên các thị trường phát triển và có danh mục sản phẩm ít trùng lặp.

Tận dụng thời cơ chủ yếu nhắm đến thu hút FDI từ xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc. Thu hút FDI với các dự án lớn và xuất khẩu cần có cách tiếp cận giống với Samsung, đó là quy mô càng lớn, càng ưu đãi nhằm biến Việt nam thành trung tâm sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia, tạo sức lan tỏa cao cho nền kinh tế.

Mở rộng thị trường xuất khẩu là một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa dài hạn bởi xét cho cùng, để có tăng trưởng cao và bền vững thì chỉ có duy nhất 1 hướng đi, đó là xuất khẩu ra toàn cầu. Để thực hiện mục tiêu này cần sự góp sức của toàn bộ hệ thống chính trị và doanh nghiệp để xây dựng những chiến lược đúng cho từng ngành, từng sản phẩm.

Tăng trưởng chậm của năm 2019 là không bất ngờ. Tăng trưởng chậm là cơ hội để thúc đẩy cải cách thể chế và nhìn lại những chính sách đã thực hiện thay vì vội vã kích thích với những hệ lụy khó lường. Năm 2019 vẫn cần được coi là một năm tích lũy, rà soát, củng cố nội lực, tạo bàn đạp để tăng tốc trong các năm tiếp theo.




(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)