TƯ VẤN
THU PHÍ
Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

  •  

  •  

 

Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam tháng 2/2019 - Công nông nghiệp sẽ cùng kéo tăng trưởng chậm lại

Ngày: 08/03/2019 09:51 - Lượt xem: 343

- Nông nghiệp sụt giảm, Thủy sản, Chăn nuôi tương đối ổn định
- Khai khoáng và Điện tử giảm nhưng nhiều ngành công nghiệp khác vẫn khả quan

 

Nông nghiệp sụt giảm, Thủy sản, Chăn nuôi tương đối ổn định

Ngành nông nghiệp trong 2 tháng đầu năm đối mặt với khó khăn về cả thị trường lẫn giá nông sản. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực là gạo, rau quả, cà phê đều giảm so với cùng kỳ. Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm giảm -17.5% YoY (cùng kỳ tăng +30.5%), rau quả giảm -14.4% (cùng kỳ tăng +54.6%), cà phê giảm -26.9% (cùng kỳ chỉ giảm -0.5%).
Với gạo và rau quả, việc thị trường lớn nhất là Trung Quốc giảm nhập khẩu đã gây ra khó khăn cho phía Việt nam. Xu hướng xuất khẩu gạo và rau quả sang Trung Quốc đã giảm sút mạnh kể từ cuối năm 2018 và tiếp diễn sang đầu 2019. Xuất khẩu chậm đã kéo giá lúa trong nước giảm xuống chỉ còn khoảng 5.25 nghìn đồng/kg với lúa khô tại ĐBSCL, thấp hơn mức trung bình của năm 2017 và 2018 (tương ứng là 5.33 và 6.07 nghìn đồng/kg).

Ngoài gạo, giá hàng hóa cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả của nhiều mặt hàng nông sản khác. Xuất khẩu hạt tiêu tăng +7.8% về lượng nhưng lại giảm -20.6% về giá trị, xuất khẩu cao su tăng +16.6% về lượng nhưng chỉ tăng +1.3% về giá trị, tương tự hạt điều giảm -2.3% về lượng và giảm -21% về giá trị.

Từ những số liệu trên có thể thấy trước tăng trưởng ngành nông nghiệp trong quý 1 sẽ không khả quan. Việc kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại sẽ còn ảnh hưởng đến các quý tiếp theo nếu không có những đột phá về thị trường xuất khẩu.
Sản lượng ngành thủy sản duy trì được tăng trưởng tương đối khả quan, trong đó ngành thủy sản khai thác có tăng trưởng cao +5.3% (cùng kỳ tăng +1.5%) nhưng ngành thủy sản nuôi trồng gồm tôm và cá tra lại tăng trưởng chậm lại, +3.9% so với cùng kỳ là +4.7%.

Dẫu vậy, giá tôm và cá tra hiện vẫn đang ở mức tốt. Giá cá tra đang ở khoảng 29 nghìn/kg, xấp xỉ bằng mức trung bình của năm 2018 là 29.5 nghìn/kg. Giá tôm hiện dao động trong khoảng 90-100 nghìn/kg, tương đương quý 4/2018 và cao hơn giai đoạn đầu năm 2018 là 80-90 nghìn/kg. Vấn đề tăng trưởng sản lượng thấp trong khi giá ổn định có thể xuất phát từ việc kiểm soát việc gia tăng diện tích nuôi nhằm giữ giá.

Không được tích cực như sản lượng, xuất khẩu thủy sản 2 tháng tăng thấp +2.3%, giảm mạnh so với mức tăng của cùng kỳ là +18.7%. Số liệu xuất khẩu tháng 1 cho thấy sự giảm tốc ở nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái lan …. trong khi hai thị trường lớn nhất là Mỹ và Nhật vẫn có mức tăng trưởng cao.

Tình hình chăn nuôi của năm 2019 khởi đầu một cách thuận lợi với việc đàn lợn tăng +3% và gia cầm tăng +6%. Sản lượng thức ăn chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2019 đã tăng +4% YoY trong khi cùng kỳ giảm -1.1%. Dịch tả lợn Châu Phi ở một số tỉnh miền Bắc khiến giá lợn neo ở mức trên 50 nghìn đồng/kg và kích thích người nuôi tăng đàn. Nguy cơ dịch bệnh ảnh hưởng đến lạm phát không lớn vì nguồn cung vẫn đang gia tăng trong khi dịch bệnh có thể kiểm soát và giá lợn tại Trung Quốc đang trong xu hướng giảm.



Khai khoáng và Điện tử giảm nhưng nhiều ngành công nghiệp khác vẫn khả quan

2 tháng đầu năm 2019, chỉ số công nghiệp của Việt nam tăng +9.2% YoY, thấp hơn nhiều mức tăng +13.7% của cùng kỳ năm 2018 do công nghiệp chế biến chế tạo tăng +11.5% (cùng kỳ tăng +16%), khai khoáng giảm -4.7% (cùng kỳ tăng +2.9%). Tăng trưởng công nghiệp thấp sẽ làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng GDP trong quý 1/2019.
Ngành công nghiệp chủ đạo là sản xuất điện tử chỉ tăng +5.2% trong khi cùng kỳ tăng tới +38.3%. Trong 2 tháng đầu năm, sản lượng điện thoại di động giảm -7.6% xuống 28.5 triệu chiếc (cùng kỳ tăng +14.6% lên 33.9 triệu chiếc). Điều này đã được dự báo từ trước do Samsung thay đổi kế hoạch và giảm sản lượng sản xuất tại Việt nam. Bù lại một phần cho sự giảm sút của Samsung là hai nhà máy LG Inotek và LG Display (đi vào hoạt động tại Hải phòng từ giữa năm 2018). Sản lượng tivi sản xuất trong 2 tháng là 2.26 triệu chiếc, tăng +37% YoY.

Đa số những ngành có đóng góp cao cho năm 2018 tiếp tục duy trì được tăng trưởng tốt. Kim loại tăng +35.8%, cao nhất 21 tháng chủ yếu nhờ hoạt động của nhà máy thép Formosa (giúp chỉ số công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng +46.2%). Sản lượng sắt thép thô sản xuất trong 2 tháng đạt 3.2 triệu tấn, tăng mạnh +76% YoY. Xuất khẩu sắt thép cũng tăng cao, +33.5% đạt 1.2 triệu tấn nhưng do giá thép giảm nên giá trị xuất khẩu chỉ tăng +14.4%, đạt 750 triệu USD (cùng kỳ tăng +22.5% về lượng và +36.7% về giá trị).

Chỉ số công nghiệp Sản xuất xe có động cơ tăng +20.9%, cao nhất 38 tháng. Sản lượng ô tô sản xuất trong 2 tháng đạt 41.2 nghìn chiếc, tăng +15.7%. Nhu cầu tiêu thu ô tô đang tăng trở lại kéo theo sự gia tăng sản xuất trong nước và cả nhập khẩu. Theo thống kê của VAMA, lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc bán ra trong tháng 1 lập kỷ lục mới là 14.6 nghìn chiếc, tăng 2.7 lần so với cùng kỳ 2018 và +24% so với trung bình quý 4/2018. 

Ngành Dầu mỏ tinh chế tăng mạnh +92.1% do cùng kỳ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn chưa đi vào hoạt động. Chỉ số công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa vì vậy cũng đạt mức tăng trưởng cao nhất cả nước là +46.7% Sản lượng xăng dầu và khí hóa lỏng sản xuất trong 2 tháng đều tăng gấp đôi cùng với đó là lượng xăng dầu nhập khẩu cũng giảm hơn một nửa so với 2 tháng 2018.
Các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, nội thất tuy không nổi trội nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng trên 2 chữ số và xấp xỉ như năm 2018, lần lượt đạt +11.5%, +10.8% và +13.8%.  Xuất khẩu hàng dệt may năm nay rất khả quan, tăng +19% YoY, là mức tăng trưởng xuất khẩu 2 tháng cao nhất trong 6 năm, tương tự với giày dép là +18.4%, cao nhất 4 năm.
Ngành Dược gây thất vọng với việc giảm -12.4% sau khi đã tăng tốc rất tốt trong năm 2018 (+20%) nhờ các quy định mới có tính bảo hộ của Luật Dược. Nhập khẩu thuốc cũng nhích tăng +5.6% trong khi cùng kỳ giảm -4.58%.
Xét ở góc độ địa phương, Hải Phòng là tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều năm nhờ sự cải thiện nhanh của hạ tầng giao thông và các khu công nghiệp. Chỉ số công nghiệp của Hải Phòng tăng +25.2% trong năm 2018 và đạt +23.7% trong 2 tháng đầu năm 2019. Tăng trưởng của các tỉnh gắn liền với sản xuất điện tử, đặc biệt là Samsung bị giảm mạnh, Thái Nguyên chỉ tăng +3.8%, Bắc Ninh tăng +2.2%.

Ngược lại các tỉnh có doanh nghiệp sản xuất ô tô lại có tăng trưởng cao, Quảng Nam tăng +11.1%, Vĩnh Phúc tăng +19.6%. Quảng Ninh sau một thời gian dài trầm lắng đã có cải thiện trong năm 2018 và tiếp tục duy trì được phong độ sang đầu năm 2019. Hai trung tâm công nghiệp với sự tập trung lớn các doanh nghiệp FDI là Bình Dương và Đồng Nai tăng khá thấp, +6.1% và +7.8%, tuy nhiên đây có thể do yếu tố mùa vụ và tăng trưởng trong các tháng tới có thể sẽ cải thiện.
Chỉ số sử dụng lao động trong ngành công nghiệp tăng thấp, 2.3%, với một số địa phương bị giảm như Vĩnh Phúc giảm -0.2%, Thái Nguyên giảm -4%, Bắc Ninh giảm -6.4%, đây đều là những trung tâm thu hút FDI tại khu vực phía bắc. Đáng chú ý chỉ số lao động của Đà Nẵng giảm -14.8% với nguyên nhân được cho là các doanh nghiệp điện tử và sản xuất đồ chơi trẻ em không ký được hợp đồng mới. Tuy vậy đây cũng là một cảnh báo về tình hình kinh doanh tại Đà nẵng, nơi từng đứng cao về chỉ số môi trường kinh doanh. Chỉ số công nghiệp của Đà nẵng bắt đầu tụt dốc từ quý 4/2018 và hiện đã giảm xuống mức thấp nhất nhiều năm.




Tóm lại, từ các số liệu của 2 tháng đầu năm có thể thấy tăng trưởng ngành công, nông nghiệp sẽ thấp và ảnh hưởng đến GDP quý 1. Nhìn sang các quỹ tiếp theo, nếu thị trường xuất khẩu nông sản không cải thiện, tăng trưởng ngành nông nghiệp sẽ vẫn ở mức thấp. Các ngành công nghiệp tăng trưởng cao như thép, sản xuất xe có động cơ có thể có bứt phá nhờ một số dự án quy mô lớn đi vào hoạt động. Với nền thấp dần của sản xuất điện thoại trong cùng kỳ 2018, đà giảm của công nghiệp điện tử sẽ không còn quá lớn. Tuy vậy, không thể loại trừ ngành điện tử, điện thoại tiếp tục kéo giảm tăng trưởng công nghiệp chung do sự bão hòa của thị trường điện thoại trên toàn cầu.
Nhìn ở góc độ địa phương, sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh cho thấy động lực tăng trưởng vẫn còn mỏng và phục thuộc vào một vài ngành công nghiệp mũi nhọn. Sự vươn lên của Hải Phòng là kết quả của nhiều năm phát triển hạ tầng nhưng nếu như không có những chuyển biến về thể chế thì một điểm sáng như Đà Nẵng cũng có thể lụi tắt. Điều đó có nghĩa ngoài việc nhìn vào khía cạnh ngành và doanh nghiệp, việc tìm kiếm/phát triển các động lực tăng trưởng cũng cần nhìn theo khía cạnh địa phương/vùng để tạo ra các mũi nhọn về cải cách thể chế và thu hút đầu tư.
Thách thức về tăng trưởng của nửa đầu năm 2019 là có và đã được nhìn thấy trước. GDP giảm tốc là lý do để tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế thay vì vội vã thực hiện các biện pháp nới lỏng. Với một nền sản xuất hàng hóa còn yếu, các chính sách nới lỏng rất dễ tạo hiệu ứng ngược ảnh hưởng xấu đến lạm phát và nhập siêu. Vốn ngân sách chậm giải ngân là một điểm nghẽn cần sớm giải quyết để tạo cú hích cho tăng trưởng với điều kiện phải đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả đầu tư.


(Nguồn: SSI)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)

Mở tài khoản

  •  (*)

  •  (*)

  • Email thường dùng (*)