Mở tài khoản
Đăng ký ngay
 Đóng

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)

4 câu hỏi lớn khi phân tích cơ bản 1 doanh nghiệp?

Ngày: 05/07/2018 08:57 - Lượt xem: 841

Đây là  những câu hỏi được đặt ra khi phân tích cơ bản một doanh nghiệp:

  • Trong quá khứ và hiện tại, công ty hoạt động như thế nào?
  • Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ khác là gì?
  • Tiềm năng phát triển trong tương lai ra sao?
  • Cổ phiếu của doanh nghiệp hiện tại có được định giá rẻ?


1. Phân tích báo cáo tài chính

Phân tích BCTC được hiểu đơn giản là việc làm “bóc tách” các báo cáo tài chính và tìm kiếm các mối quan hệ
Thị trường chứng khoán là thị trường của kỳ vọng, nhà đầu tư quan tâm về thị giá tương lai của cổ phiếu. Tuy nhiên, việc phân tích quá khứ (tiêu biểu là BCTC), những gì doanh nghiệp đã và đang làm là tiền đề, cơ sở cho những nhận định và kỳ vọng trong tương lai.
Khuyến nghị phân tích BCTC 4 năm và 8 quý gần nhất
Thông thường, việc phân tích BCTC doanh nghiệp trong 4 năm và 8 quý cho phép đánh giá tương đối về tính ổn định cũng như sự ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh tới kết quả hoạt động.

Ví dụ: Ở doanh nghiệp phát triển bất động sản, doanh thu và lợi nhuận được hạch toán khi tiến hành bàn giao nhà. Thực tế, cuối năm thường là mùa cao điểm bàn giao, việc này đồng nghĩa với việc nếu làm so sánh tương quan về doanh thu và lợi nhuận giữa các quý trước đó, Quý IV thông thường sẽ cao hơn cả.

Một ví dụ khác về nhóm doanh nghiệp làm thủy điện ở miền Nam, đặc trưng thời tiết với 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt góp phần ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh trong từng quý.
Phương pháp Phân tích BCTC phổ biến
Phương phápGiải thích
PT tỷ trọng (Common Size)Các báo cáo tài chính được thể hiện theo tlệ % và không thể hiện số tuyệt đối
PT xu hướng (Trend Analysis)Cho thấy sự thay đổi của các khoản mục của BCTC qua thời gian
PT tỷ số (Ratio Analysis)Thể hiện mối quan hệ giữa các khoản mục của BCTC trong một thời kỳ

Ví dụ 1: PT tỷ trọng BC KQKD của Công ty CP Cao su Đồng Phú / Mã: DPR.
Coi doanh thu thuần là 100%


Ví dụ 2: PT xu hướng tốc độ tăng trưởng của Công ty CP Nhựa và Môi trường An Phát / Mã: AAA qua các năm:


Ví dụ 3: Phân tích chỉ số thanh khoản hiện hành của Công ty CP Vàng Bạc Đá quý Phú Nhuận/ Mã: PNJ
Nhận xét: Hệ số thanh toán hiện hành luôn >1 trong khi hệ số thanh toán nhanh rất thấp.(Lí giải: số ngày lưu hàng tồn kho tăng + Đẩy mạnh bán lẻ , dẫn đến tỷ lệ hàng tồn kho/tài sản lưu động luôn >90%
Hệ số thanh toán nhanh kém không phải là điều đáng lo ngại do hàng tồn kho của PNJ là vàng, bạc, tính thanh khoản tương đối cao.

Một số lưu ý
Trong trường hợp doanh nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực, việc phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh cần được bóc tách và chia nhỏ theo từng lĩnh vực để tìm ra:
  • Đâu là là những mảng kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong cơ cấu doanh thu?
  • Mảng kinh doanh chính có phải là phấn sinh lời lớn nhất cho doanh nghiệp?

Ví dụ:
Xem xét KQKD 6 tháng 2017 của FPT với 4 mảng kinh doanh chính, trong đó:
  • Phân phối (FTG) và Bán lẻ (FRT) chiếm gần 60% cơ cấu doanh thu,nhưng không đem lại hiệu quả cao nhất bởi tỷ suất Lợi nhuận trước thuế/ doanh thu (LNTT/DT) chỉ duy trì ở 2 3 %
  • Thuê ngoài phần mềm chiếm 14% cơ cấu doanh đem lại 16% tỷ suất LNTT/DT.
  • Mảng dịch vụ Viễn thông lần lượt là 17% và 15%
Rõ ràng, để đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn, FPT cần tập trung và đẩy mạnh 2 mảng kinh doanh dưới, thay vì là Phân phối và Bán lẻ.

Thận trọng với khoản mục “Chi phí khác” trên bảng cân đối kế toán hoặc “Lợi nhuận khác” trên Báo cáo kết quả kinh doanh

Các công ty thường có khoản mục “chi phí khác” hay biến động hoặc quá nhỏ để định lượng, đây là điều bình thường trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Nếu khoản mục “chi phí khác” có giá trị cao bất thường, bạn nên tìm xem điều gì tạo nên khoản mục “chi phí khác” cao đến như vậy. Và bạn có thể dự đoán khoản mục này còn xuất hiện trong tương lai hay không.

2. Tìm hiểu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Cũng giống như phân tích ngành, người phân tích có thể sử dụng 2 phương pháp phổ biến sau để tìm ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp:
Value Chain (Chuỗi giá trị sản xuất)
Như đã nói ở phần phân tích ngành,một công ty có thể tối đa hóa hoạt động trong càng nhiều mắt xích sản xuất của ngành sẽ xây dựng được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác.

Ví dụ: Trong ngành thép ở Việt Nam, Hòa Phát (HPG) là doanh nghiệp duy nhất sở hữu quy trình sản xuất hiện đai khép kín, tham gia sâu nhất trong chuỗi giá trị ngành thép. Nói một cách khác, Hòa Phát có lợi thế cạnh tranh tốt hơn cả, ít chịu biển động nhất trong ngành khi giá quặng sắt (nguyên liệu sản xuất) đầu vào có xu hướng tăng.

Điều này lý giải tại sao biên lợi nhuận gộp của HPG cao, đạt trung bình 26% trong khi các doanh nghiệp khác như Thép Pomina (POM), Thép Thái Nguyên (TIS) chỉ đạt tỷ suất biên LNG mỏng từ 5 đến 7%.
Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Porter
Mô hình này được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận; và quan trọng hơn cả, cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.

Các thành phần trong Mô hình Five Forces của Michael Porter:
Thành phầnThể hiện qua
(1) Mức độ cạnh tranh (Rivalry among existing competitors)– Các rào cản nếu muốn thoát ra khỏi ngành,
– Mức độ tập trung của ngành,
– Chi phí cố định/giá trị gia tăng,
– Tăng trưởng của ngành,
– Tình trạng dư thừa công suất,
– Khác biệt giữa các sản phẩm,
– Chi phí chuyển đổi,
– Nhận diện thương hiệu sản phẩm/dịch vụ,
– Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh,
– Lợi ích của doanh nghiệp trong ngành.
(2) Quyền lực của nhà cung cấp (Bargaining power of suppliers)– Mức độ tập trung của các nhà cung cấp,
– Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp,
– Sự khác biệt của các nhà cung cấp,
– Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm,
– Chi phí khi chuyển đổi nhà cung cấp,
– Sự hiện diện của nhà cung cấp thay thế,
– Nguy cơ hợp nhất nhà cung cấp,
– Chi phí cung ứng so với tổng chi phí của ngành.
(3) Quyền lực của khách hàng (Bargaining power of buyers)– Vị thế mặc cả,
– Số lượng mua,
– Thông tin mà người mua có được,
– Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
– Tính nhạy cảm đối với giá,
– Nguy cơ thâu tóm ngược,
– Sự khác biệt hóa sản phẩm,
– Mức độ tập trung của khách hàng trong ngành,
– Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế,
– Động cơ của khách hàng.
(4) Nguy cơ thay thế (Threats of substitute products or services)– Chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm/dịch vụ,
– Xu hướng sử dụng sản phẩm/dịch vụ thay thế của khách hàng,
– Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.
(5) Đối thủ tiềm tàng – Rào cản gia nhập (Threats of new entrants – Entry barriers)– Các lợi thế chi phí tuyệt đối,
– Bí quyết kinh doanh, bản quyền sáng chế,
– Khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào,
– Chính sách của chính phủ,
– Tính kinh tế theo quy mô,
– Các yêu cầu về vốn,
– Tính đặc trưng của thương hiệu,
– Chi phí chuyển đổi,
– Khả năng tiếp cận với kênh phân phối,
– Khả năng bị trả đũa,
– Sản phẩm độc quyền.

3. Định giá cổ phiếu/doanh nghiệp

Khi định giá thường của một doanh nghiệp có 2 cách tiếp cận chủ yếu:

Sử dụng các mô hình dựa trên các biến mà người định giá cho rằng có ảnh hưởng đến giá trị nội tại của doanh nghiệp. Đại diện cho hướng tiếp cận này là các phương pháp định giá chiết khấu, bao gồm các phương pháp phổ biến sau:
  • Chiết khấu dòng cổ tức (Dividend discount model – DDM)
  • Chiết khấu dòng tiền doanh nghiệp (Free cash flow to firm – FCFF)
  • Chiết khấu dòng tiền vốn chủ sở hữu (Free cash flow to equity – FCFE)
  • Chiết khấu lợi nhuận thặng dư (Residual Income – RI).

So sánh doanh nghiệp với một hoặc một nhóm các doanh nghiệp tương đương mà giá trị thị trường có thể quan sát được. Đây là cách tiếp cận đối với các phương pháp định giá tương đối như:
  • P/E
  • P/B
  • P/S
  • EV/EBITDA

Dịch vụ tư vấn

Dùng thử 20 ngày nhận tư vấn qua Email
- Bản tin hằng ngày
- Khuyến nghị Mua/Bán
- Tư vấn Phái sinh/ Chứng quyền
- Cảnh báo thị trường
- Dự báo KQKD
- Báo cáo phân tích
  •  (*)

  •  (*)

  •  (*)

Đăng ký mở tài khoản

“Bạn không bao giờ quá già hay quá trẻ để đầu tư”
  •  (*)

  •  (*)